text
stringlengths 82
354k
|
---|
Ishihara Nozomi ( (Thạch-Nguyên Hi-Vọng), Ishihara Nozomi 25 tháng 7 năm 2000 –) là một nữ diễn viên khiêu dâm và YouTuber người Nhật Bản. Cô thuộc về công ti LIGHT.
Tháng 6/2020, cô đã ra mắt ngành phim khiêu dâm với tư cách là nữ diễn viên từ 5 hãng phim.
Phim ra mắt ngành của cô "Tân binh Cô gái xinh đẹp với giọng địa phương và tính cách tốt ra mắt ngành phim khiêu dâm Ishihara Nozomi" (新人 めっちゃ性格の良い方言美少女AV DEBUT 石原希望) đã xếp thứ 2 trong bảng xếp hạng bán hàng qua bưu điện của FANZA hàng ngày trong ngày 2/5/2020. Phim đã xếp thứ nhất trong bảng xếp hạng hàng ngày ngày 3/5. Trong bảng xếp hạng hàng ngày ngày 25/5, 4 phim của cô (3 phim riêng) đã nằm trong 10 vị trí cao nhất của bảng.
Ngày 30/5, phim cũng đã xếp thứ nhất trong bảng xếp hạng phim khiêu dâm trên sàn video FANZA. Trong bảng xếp hạng hàng tháng trong tháng 6, cô đã xếp thứ hai trong cả hai hạng mục sản phẩm và nữ diễn viên (xếp thứ 1 trong cả hai hạng mục là Anzai Rara).
19/6/2020, cô tham gia chương trình MissiD 2021 của Kōdansha. Cô đã tiến vào vòng chụp ảnh của cuộc thi. Vào ngày 3/10, cô tiến vào vòng bán kết. Sau đó cô đã dừng lại ở vòng chung kết vào ngày 20/11.
Cô đã xếp thứ 2 trong bảng xếp hạng doanh số phim khiêu dâm bán ra theo nữ diễn viên nửa đầu năm 2020 của FANZA. Tháng 7 cùng năm, cô xếp thứ nhất trong bảng xếp hạng nữ diễn viên khiêu dâm hàng tháng của sàn bán hàng qua bưu điện của FANZA. Ngoài ra, cô còn xếp thứ 1 trong hạng mục Tân binh trong thông cáo hàng tháng của FANZA "Diễn viên khiêu dâm này thật tuyệt! mùa hè 2020".
13/10/2020, cô mở kênh YouTube "のぞちゃん" (Nozo-chan). Vì một số lí do, ban đầu cô đã sử dụng tên "のん" (Non) hay "NON" trên YouTube, và đã sử dụng một kênh chính thức khác. Ngày 29/10, sách ảnh đầu tiên của cô đã được phát hành bởi Tokuma Shoten.
Từ tháng 11/2020, cô trở thành nữ diễn viên độc quyền của MOODYZ (các phim được quay trước đó vẫn sẽ được các hãng phim khác phát hành lần lượt). Cũng vào tháng 11, từ "Ishihara Nozomi" (tên người duy nhất trong bảng) đã xếp thứ 4 trong bảng xếp hạng Giải thưởng từ chuyên ngành phim khiêu dâm năm 2020 của tạp chí Playboy hàng tuần.
Cô đã xếp thứ 7 theo bảng xếp hạng nữ diễn viên khiêu dâm hàng năm của FANZA năm 2020, được lựa chọn dựa theo tổng doanh số đĩa DVD trong 1 năm.
Tháng 2/2021, cô đã xếp thứ 1 trong thông cáo hàng tháng của FANZA "Diễn viên khiêu dâm này thật tuyệt! mùa đông 2021". Tháng 3/2021, phim của cô "Sau khi trở về từ một lễ hội, tôi ở cùng phòng với người quản lí của công việc bán thời gian của tôi, người đã lắng nghe những lời phàn nàn của bạn trai tôi, và tôi đã quan hệ tình dục NTR với anh ấy đến khi thoát khỏi ham muốn tình dục (フェス帰り相部屋NTR彼氏の愚痴を聞いてくれるバイト先の店長と性欲解消するまで中出ししまくった絶倫性交) đã nhận giải Hình ảnh tốt nhất tại "Giải thưởng Erodemy 2021" của tạp chí Playboy hàng tuần. 11/4/2021, cô đã nhận giải New Generation Porn Star của MissiD2021. Tháng 4/2021, cô xếp thứ 26 trong bảng "bầu cử nữ diễn viên phim khiêu dâm SEXY đang hoạt động 2021" của Asahi Geino. Tháng 8/2021, cô xếp thứ 7 trong "Bảng xếp hạng FLASH 2021 diễn viên nữ gợi cảm chọn bởi 300 độc giả". Tháng 8 cùng năm, cô đã xếp thứ 2 trong thông cáo hàng tháng của FANZA "Diễn viên khiêu dâm này thật tuyệt! mùa hè 2021".
9/11/2021, cô được chỉ định làm "chiến binh gợi cảm" (quản lí bởi MOODYZ) tham gia chiến dịch kỉ niệm kỉ niệm 5 năm phim thực tế ảo FANZA.
Tháng 12/2021, cô nhận giải Grand Prix tại Giải thuởng phim khiêu dâm Asagei do Asahi Geino tổ chức theo tiêu chí và quyết định riêng. Cô đã xếp thứ 20 trong bảng xếp hạng nữ diễn viên gợi cảm 2021 trên tạp chí FLASH của Kobunsha.
Tháng 3/2022, phim của cô "182 lần cực khoái mãnh liệt! 3714 lần co thắt âm đạo! 13478cc nước tinh nguyên chất! Sự thức tỉnh cực khoái gợi dục đặc biệt sau kiêng cữ!!" (激イキ182回!膣痙攣3714回!本気汁13478cc!禁欲焦らしオーガズム大覚醒スペシャル!!) đã nhận giải Phim truyền tải thông tin tốt nhất tại Giải thưởng Erodemy 2022 do tạp chí Playboy hàng tuần của Shūeisha tổ chức.
Tháng 4/2022, cô trở thành nữ diễn viên hỗ trợ cho "Chiến dịch tuần lễ Vàng ngày Lễ tạ ơn tuyệt vời 2022" của FANZA. Tháng 5/2022, cô xếp thứ 47 trong bảng "bầu cử nữ diễn viên phim khiêu dâm SEXY đang hoạt động 2022" của Asahi Geino.
Ngày 27/5 cùng năm, buổi độc diễn trực tiếp đầu tiên của cô được tổ chức. 27/2/2023, cô sẽ xuất hiện tại sự kiện âm nhạc trực tiếp "MOON-LIGHT huyền thoại" đồng tổ chức bởi LIGHT và hãng thu âm Milky Pop Generation.
Tháng 5/2023, cô xếp thứ 46 trong bảng "bầu cử nữ diễn viên phim khiêu dâm SEXY đang hoạt động 2023" của Asahi Geinō Buổi độc diễn thứ 3 của cô cũng đã được tổ chức tại Sangenjaya Grapefruit Moon ở Tokyo vào ngày 1/6.
3/7/2023, phim tổng hợp của cô "【Túi may mắn】S-Cute chỉ có những cô gái xinh đẹp 15 phim không cắt 38 tiếng bản ghi!"(【福袋】S-Cute 可愛い子だけ15作品をノーカット収録38時間!) phát hành tháng 12/2022 đã xếp thứ nhất trên bảng xếp hạng sàn video FANZA hàng tuần. Phim cũng đã xếp thứ 3 trên bảng xếp hạng sàn video FANZA hàng tuần ngày 7/8.
Tháng 9/2023, loạt phim chuyển thể của manga "Karami Zakari" được bắt đầu phát sóng, trong đó cô thủ vai Niiyama Tomino. Trong phim, cô đã để tóc vàng. Phim đầu tiên trong loạt phim này đã xếp thứ nhất trên bảng xếp hạng sàn video FANZA hàng tuần ngày 11/9. Phim thứ hai của loạt phim cũng đã xếp thứ 8 trên bảng xếp hạng sàn bán hàng qua bưu điện của FANZA trong tuần ngày 11/9.
Cô đã xếp thứ 4 trên bảng xếp hạng sàn video FANZA tháng 11 cùng năm.
Cô đến từ vùng Shikoku. Cô nói rằng lí do cô trở thành nữ diễn viên khiêu dâm là do tuơng lai của công việc trước đó cô được nhận vào làm trở nên khó khăn do đại dịch coronavirus.
Sở thích của cô là cảm thụ manga và anime. Kĩ năng đặc biệt của cô là đi xe đạp một bánh và búng tay. Lid so cô vào ngành là do cô "muốn quan hệ tình dục với một nam diễn viên" và "80% là vì tôi thực sự tò mò nên là phải thử nó!". Ban đầu, cô không có mục tiêu đóng phim dài hạn và đã có kế hoạch nghỉ việc ngay lập tức, tuy nhiên sau khi nhận được các bình luận tích cực từ những người trong ngành, cô đã chọn nghỉ công việc toàn thời gian trước".
Cô có tính cách thân thiện và nói nhiều, và trong một cuộc phỏng vấn với một tạp chí khiêu dâm, cô khi phỏng vấn được so sánh với một "buổi phỏng vấn sau 5 năm trong ngành phim khiêu dâm" mặc dù lúc đó cô vừa mới ra mắt ngành. Nhà văn Himeno Tama khen ngợi kĩ năng của cô, nói rằng "Mặc dù đây là phim ra mắt ngành, cô liếm duơng vật như một người có 15 năm kinh nghiệm trong ngành". Korochiki Nishino đã miêu tả con người cô là "phiên bản nữ của Tabuchi của nhóm Indians". Hình mẫu phụ nữ lí tưởng của cô là Natsuki Mari. Cô thường được khen ngợi vì khả năng nói, và cô mong muốn được sử dụng những phẩm chất của mình để thay đổi hình tượng nghề nghiệp của mình, một nghề thường bị kì thị. Nishino cũng đã miêu tả cô là "trông như người sẽ xuất hiện trong một chuơng trình tạp kỹ địa phuơng", và cô thực sự đã làm MC phụ trong chuơng trình "Beach 9" của TV Saitama từ năm 2021.
Lần đầu cô xem phim khiêu dâm là vào năm đầu tiểu học, và đó là phim của bố một người bạn. Cô cùng người bạn đã liếm ngực nhau vì cô muốn làm giống trong phim. Cô đã biết đến thủ dâm từ một video cô xem khi học lớp bốn, và cô đã mua bàn chải điện mới bằng tiền tiêu vặt để kích thích vùng kín.
Oki Tengū, tổng biên tập của FANZA hàng tháng đã bình luận rằng "Cô là một thế hệ nữ diễn viên mới mà không thấy vấn đề với phim khiêu dâm và có thể làm những thứ họ muốn". Nhà sản xuất phim khiêu dâm Tomoko đã nói tằng cô là một nữ diễn viên "có thể quan hệ tình dục một cách tuyệt vời mà không nhà sản xuất nào có thể làm được" và "có thể bộc lộ (bản thân), tuy nhiên cũng xấu hổ khi bộc lộ bản thân".
Đạo diễn phim khiêu dâm Samoari đã bình luận rằng "Một bên, cô ấy thân thiện và có vẻ rất vui từ đầu đến cuối, điều này giúp tôi thấy thoải mái, mặt khác, cách cô ấy di chuyển khi quan hệ như một con quỷ vậy".
Các phim có cốt truyện của cô được khen ngợi, và cô đã nói rằng "Tôi chỉ đang thể hiện bản tahan qua các tình tiết", "Tôi chỉ thể hiển điểm mạnh của mình khi được thể hiện chính mình" và "Tôi chỉ hài lòng khi tình tiết phù hợp với cảm xúc và tính cách của tôi", còn lại cô sẽ cảm thấy rằng cô như đang không diễn hay diễn không tốt. Nếu cô thấy không phù hợp hay khó vào vai, sự tự tin của cô sẽ giảm đi và cô sẽ nhận lại các đánh giá kém về phim.
Tháng 10/2020, cô đã nói rằng cô muốn thu hút thêm những người không xem phim khiêu dâm.
Cô thường dùng phương ngữ Kansai. Khi cô đóng các vai không nói phương ngữ Kansai trong phim có cốt truyện, giọng cô thường bị xen lẫn tiếng thở hổn hển.
Hơn nữa, đối với phim khiêu dâm, cô gần như chỉ xem phim cô đóng, và kiểm tra nó từ đầu đến cuối, và sau khi quay cô sẽ nhớ lại buổi quay để thỏa mãn nhu cầu tình dục (Cô gọi điều này là "thủ dâm đuổi" (追いオナニー)).
Cô đã là một paipan trong một thời gian, nhưng giờ cô đang để lông mu được mọc lại. |
Không khí (nguyên tố cổ điển)
Nguyên tố Phong hay nguyên tố Không khí (tiếng Anh: Air) là một trong bốn nguyên tố cổ điển cùng với thổ, thủy và hỏa trong triết học, giả kim thuật, chiêm tinh học và thần thoại Hy Lạp cổ đại.
Nguyên tố Không khí cũng tương ứng với Phong đại trong hệ thống Tứ đại của Phật giáo Ấn Độ và hệ thống Ngũ đại (Godai, Ngũ đại) của triết học Nhật Bản.
Triết học Hy Lạp và La Mã.
Không khí và gió đại diện cho thể khí, trạng thái thứ ba của vật chất, gắn liền với khối bát diện và được coi là vừa nóng vừa ẩm. Người Hy Lạp cổ đại sử dụng hai từ để chỉ không khí: "aer" có nghĩa là phần phía dưới mờ ảo của bầu khí quyển, và "aether" có nghĩa là bầu không khí sáng sủa phía trên các đám mây. Ví dụ, Plato viết rằng "Không khí cũng vậy: có loại sáng nhất mà chúng ta gọi là "ether", loại tối nhất mà chúng ta gọi là sương mù và bóng tối, và những loại khác mà chúng ta không có tên gọ". Trong số các nhà triết học tiền-Socrates đầu tiên của Hy Lạp, Anaximenes (giữa thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên) đã gọi không khí là "nguyên lí thứ nhất". Một niềm tin tương tự được một số nguồn cổ xưa gán cho Diogenes Apolloniates (cuối thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên), người cũng liên kết không khí với trí thông minh và linh hồn ("psyche" ), nhưng các nguồn khác cho rằng "nguyên lí thứ nhất" của ông là một chất giữa không khí và lửa. Aristophanes đã thuật lại những lời dạy như vậy trong vở kịch "Những đám mây" của mình, bằng cách đưa ra một lời cầu nguyện vào miệng Socrates.
Triết học Ấn Độ và Phật giáo.
Trong triết học Ấn Độ, Tứ đại (四大 "cattāro mahābhūtāni" là bốn yếu tố lớn hình thành nên vật chất, gồm: Địa Đại (地大, "pruṭhavī-dhātu"), Thủy đại (水大, "āpa-dhātu"), Hỏa đại (火大, "eja-dhātu") và Phong đại (風大, "vāyu-dhātu").
Vạn vật trong vũ trụ có bản chất chuyển động thì đều thuộc về Phong đại. Ngoài ra, yêu tố này còn có tác dụng sinh trưởng, khí hô hấp.
Triết học Nhật Bản.
Phong là một trong năm nguyên tố của triết học Godai Nhật Bản, bao gồm Địa (地/ ち "Chi"), Thuỷ (水/ すい "Sui"), Hoả (火/ か "Ka"), Phong (風/ ふう "Fū") và Không (空/ くう "Kū"). Nguồn gốc của nó là từ hệ thống Mahābhūta của Phật giáo Ấn Độ và được kết hợp, tinh chế cùng với truyền thống, văn hóa và tôn giáo dân gian bản địa của Nhật Bản.
Phong luân (風輪/ , Fūrin) là được xếp thứ tư trong Ngũ luân tháp (五輪塔/ , Gorintō), Phong luân có màu đại diện là màu đen, nằm trên Hỏa luân và nằm dưới Không luân.
Phong đại diện cho những thứ phát triển, mở rộng và sự tự do di chuyển. Ngoài không khí, khói và những thứ tương tự, Phong có thể được thể hiện tốt nhất bằng tâm trí con người theo một cách nào đó. Khi chúng ta phát triển về thể chất, chúng ta cũng học hỏi và mở rộng về mặt tinh thần, về kiến thức, kinh nghiệm và tính cách. Phong tượng trưng cho hơi thở và các quá trình bên trong liên quan đến hô hấp. Về mặt tinh thần và cảm xúc, nó đại diện cho một thái độ “cởi mở” và cảm giác vô tư. Nó có thể gắn liền với ý chí, sự khó nắm bắt, sự lảng tránh. |
Colnago Ernesto C. S, Ý. Colnago vẫn là một doanh nghiệp do gia đình kiểm soát cho đến ngày 4 tháng 5 năm 2020, khi công ty đầu tư Chimera Investments LLC có trụ sở tại UAE tuyên bố đã mua lại phần lớn cổ phần của Colnago từ Ernesto Colnago, mặc dù trụ sở chính sẽ vẫn được đặt tại Ý sau khi mua lại.
Ernesto Colnago không theo nghề nông của gia đình mà chọn làm việc trong lĩnh vực xe đạp. Ông bắt đầu học nghề tại Gloria Bicycles khi mới 13 tuổi, và sau đó tham gia đua xe đạp đường trường. Sau khi một tai nạn nghiêm trọng kết thúc sự nghiệp đua xe của mình, ông bắt đầu làm việc phụ cho Gloria và mở cửa hàng riêng vào năm 1954, sản xuất những chiếc khung xe đạp đầu tiên của mình trong cùng năm đó. Trong khi sản xuất khung xe đạp, ông vẫn được nhiều người tin tưởng nhờ tay nghề thợ sửa xe đua của mình. Ông là thợ cơ khí thứ hai trong đội Nivea tham dự Giro d'Italia dưới sự dẫn dắt của Faliero Masi vào năm 1955, và cuối cùng được thuê làm thợ cơ khí trưởng cho đội Molteni của huyền thoại xe đạp Bỉ Eddy Merckx vào năm 1963.
Công ty Colnago được biết đến lần đầu tiên với những chiếc xe đạp có khung thép chất lượng cao, phù hợp với môi trường đua xe chuyên nghiệp khắt khe. Sau đó, Colnago trở thành một trong những nhà sản xuất xe đạp sáng tạo nhất, chịu trách nhiệm cho những đổi mới trong thiết kế và thử nghiệm với các vật liệu mới và đa dạng, bao gồm sợi carbon, hiện là vật liệu chính trong cấu tạo xe đạp hiện đại. Năm 2020, sau khi mất vợ và anh trai, Ernesto Colnago đã bán phần lớn cổ phần của mình trong công ty cho một công ty đầu tư của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.
Một trong những chiến thắng lớn đầu tiên trên khung xe đạp Colnago là vào năm 1957, khi Gastone Nencini giành chiến thắng trong cuộc đua Giro d'Italia năm 1957 trên chiếc xe đạp Colnago. Năm 1960, Colnago đạt được nhiều sự công nhận hơn khi Luigi Arienti giành huy chương vàng tại Thế vận hội Olympic Rome trên chiếc xe đạp Colnago. Đến cuối những năm 1960, Colnago được coi là một trong những nhà sản xuất khung xe đạp đua đường bằng thép tốt nhất thế giới.
Colnago và Eddy Merckx có mối quan hệ hợp tác rất thành công, đã dẫn đến nhiều chiến thắng trong các cuộc đua xe đạp chuyên nghiệp và những đổi mới trong thiết kế xe đạp. Colnago đã sản xuất nhiều chiếc xe đạp đặc biệt cho Merckx, bao gồm chiếc xe đạp thép siêu nhẹ mà anh sử dụng để phá vỡ kỷ lục thế giới một giờ vào năm 1972.
Với danh tiếng ngày càng tăng từ những chiến thắng trong các cuộc đua, Colnago đã bước vào thị trường xe đạp sản xuất. Tại Hoa Kỳ, đầu những năm 1970 đã chứng kiến một cơn sốt xe đạp khác, và Colnago đã "sản xuất xe đạp như thể tương lai của nhân loại đang bị đe dọa." Mẫu xe chính của dòng xe Colnago trong những năm 1970 là Super, tiếp theo là Mexico, được đặt tên để vinh danh thành tích phá kỷ lục một giờ thành công. Các mẫu xe khác được bổ sung bao gồm Superissimo và Esa Mexico.
Năm 1979, Ernesto Colnago đã tặng cho Giáo hoàng John Paul II chiếc xe đạp bằng thép mạ vàng được thiết kế riêng.
Để đáp lại những lời chỉ trích rằng khung xe của mình không đủ cứng, Colnago tiếp theo đã thử nghiệm các cách để thay đổi hành vi của các thành phần khung xe. Năm 1983, ông giới thiệu Oval CX với ống trên có tiết diện hình oval để tăng độ cứng. Sau đó, ông đã thử nghiệm với nhiều khung ống uốn nếp khác nhau, trở thành các mẫu sản xuất làm khung hàng đầu của họ, bắt đầu với "Super Profil" và "Master". Sau này, "Master-Light", Master Olympic và Master Più đã mở rộng phạm vi. Colnago đã chế tạo một khung từ ống thép Columbus được Giuseppe Saronni sử dụng để giành chức vô địch thế giới đua xe đạp chuyên nghiệp đường trường vào năm 1982, và sau đó một bộ sưu tập xe đạp tồn tại trong thời gian ngắn đã được dán nhãn hiệu Saronni. Năm 1983, Giuseppe Saronni đã giành chiến thắng trong cuộc đua Giro d'Italia trên một chiếc xe đạp Colnago. Những chiếc khung thép giành chiến thắng trong các cuộc đua đã làm nên danh tiếng của Colnago: "Cùng nhau, Eddy Merckx và Giuseppe Saronni đã giành được 719 chiến thắng từ năm 1965 đến năm 1988, và phần lớn những chiến thắng đó là trên chiếc Colnago khung thép. Ernesto Colnago lần đầu tiên thiết kế khung Master vào năm 1982 để thay thế cho Mexico, được đặt tên theo thành tích phá kỷ lục Giờ của Eddy Merckx tại thành phố Mexico. Trong suốt 17 năm trong peloton chuyên nghiệp, Master đã được sử dụng để giành chiến thắng hàng trăm lần, và có rất ít chiếc xe đạp nào có bảng vàng thành tích như vậy."
Kể từ những năm 1980, trong khi Colnago vẫn tiếp tục sản xuất những chiếc xe đạp khung thép cao cấp, họ cũng bắt đầu sản xuất khung xe đạp bằng các vật liệu khác ngoài thép, bao gồm titan, nhôm, sợi carbon và vật liệu hỗn hợp. Một khung xe độc đáo từ thời kỳ này, Bititan, có ống dưới kép bằng titan. Ống uốn nếp và quá khổ đã được sử dụng trên Tecnos - một trong những chiếc xe đạp khung thép sản xuất nhẹ nhất được sản xuất. Tương tự, ống nhôm quá khổ uốn nếp đã được sử dụng trên khung Dream. Năm 1981, Colnago đã tạo ra nguyên mẫu CX Pista - một chiếc xe đạp sợi carbon monocoque hoàn chỉnh với bánh xe đĩa, được trưng bày tại triển lãm xe đạp Milan. Sau đó, Colnago đã hợp tác với Ferrari để phát triển công nghệ sợi carbon mới, và Ernesto cũng ghi nhận công lao của các kỹ sư của họ đã thách thức ông về thiết kế phuộc, dẫn đến phuộc thép lưỡi thẳng Precisa sáng tạo của Colnago (1987). Colnago cũng thử nghiệm với khung đa vật liệu, bao gồm CT-1 và CT-2 được cấu tạo từ các ống chính bằng titan, phuộc và thanh chống sau bằng sợi carbon, và một khung Master được cấu tạo tương tự (mặc dù tồn tại trong thời gian ngắn) được cấu tạo từ các ống chính bằng thép, phuộc và thanh chống bằng carbon.
Những nỗ lực ban đầu của Colnago trong việc sản xuất khung xe đạp bằng sợi carbon không thành công về mặt thương mại, nhưng những bài học kinh nghiệm thu được đã được thể hiện trong các mẫu khung hàng đầu của họ, chẳng hạn như C-40, chiếc xe đạp được tìm kiếm nhiều nhất (1994), và người kế nhiệm của nó, C-50 (2004) - lần lượt được đặt tên cho năm thứ 40 và 50 của Colnago trong lĩnh vực sản xuất xe đạp. Những khung xe đạp bằng sợi carbon này đã thiết lập nên những tiêu chuẩn mới về chất lượng. Chúng được chế tạo bằng cách sử dụng một dạng sửa đổi của phương pháp chế tạo khung xe đạp truyền thống, thay thế các chấu bằng sợi carbon cho thép đúc vi mô, và "ống" bằng sợi carbon cho các ống thép phức tạp được sử dụng để chế tạo khung thép. Các kỹ thuật xây dựng tương tự được sử dụng trong thiết kế mới nhất, C59, được đặt tên (như trước đây) theo năm sản xuất của nó.
Chiếc C40 đã giành chiến thắng trong 5 giải Paris-Roubaix trong 6 năm. Đáng ngạc nhiên là, chiến thắng của Tadej Pogačar tại giải Tour de France 2020 đánh dấu lần đầu tiên một chiếc xe đạp mang thương hiệu Colnago được người chiến thắng ở bảng tổng sắp chung cuộc cưỡi, kể từ khi những chiến thắng của Merckx là trên những chiếc xe đạp được đổi tên thương hiệu.
Một cuộc phỏng vấn với Ernesto Colnago trong đó ông mô tả các mẫu xe Colnago mang tính biểu tượng (được quay tại bảo tàng nhà máy) có sẵn trên YouTube. Gia đình Colnago ra mắt La Collezione, 25/11/22 tại Milan, 18/12/22 Khách mời khai trương trước La Collezione Cambiago .
Colnago tài trợ cho các đội đua xe đạp từ năm 1968.
Colnago đã tài trợ cho ít nhất một đội đua chuyên nghiệp mỗi năm kể từ năm 1974, thường tài trợ cho nhiều hơn một đội. Ngoài ra, các đội khác trong peloton cũng đã thi đấu trên xe đạp Colnago. Có lẽ nổi tiếng nhất là đội Molteni bao gồm Eddy Merckx, nhưng nhà vô địch thế giới Giuseppe Saronni cũng đã cưỡi xe đạp Colnago trong suốt sự nghiệp của mình, từ năm 1977 với Scic, sau đó với Gis Gelati và với Colnago-Del Tongo. Năm 2021, Colnago xác nhận rằng Saronni đã sử dụng Super tại Goodwood 1982 và 1983 Giro D'Italia. Colnago được biết đến rộng rãi là nhà tài trợ của đội đua xe đạp Mapei huyền thoại trong suốt những năm 1990. Năm 2005, Colnago tài trợ cho đội đua xe đạp chuyên nghiệp Rabobank. Colnago cũng là nhà tài trợ xe đạp cho đội Navigators của Mỹ, đội mà tay đua nước rút người Úc Hilton Clarke đã là thành viên từ năm 2005 đến năm 2008.
Năm 2006, Đội Milram gia nhập danh sách các đội được tài trợ chuyên nghiệp của họ với sự góp mặt của Alessandro Petacchi và Erik Zabel nổi tiếng. Ngoài ra, Colnago là nhà tài trợ đồng danh của đội đua xe đạp chuyên nghiệp Landbouwkrediet-Colnago tham gia giải UCI Europe Tour và là nhà cung cấp khung chính thức cho Đội Tinkoff vào năm 2007. Bắt đầu từ Tour de France 2011, Đội Europcar đã sử dụng khung Colnago. Đối với năm 2012, Colnago đang tài trợ cho Colnago-CSF Bardiani.
Tổng quan về sản xuất hiện tại.
Cho đến đầu năm 2006, Colnago gần như đã sản xuất toàn bộ khung xe đạp của họ tại nhà máy Cambiago của họ, mặc dù những tin đồn dai dẳng về việc thuê ngoài các khung cơ bản hơn đã có từ những năm 1970. Alan đã sản xuất một số khung nhôm cho Colnago trong những năm 1980, bao gồm các mẫu xe đạp đường trường và xe đạp cyclocross có ống dưới kép và ống dưới đơn. Vào tháng 3 năm 2005, Colnago tuyên bố rằng họ đã gia nhập A-Team có trụ sở tại Đài Loan, có các thành viên bao gồm Giant, Merida và SRAM - nhà sản xuất Ý đầu tiên làm như vậy, để sản xuất các mẫu xe đạp tầm trung cho thị trường Nhật Bản và châu Âu.
Bắt đầu từ năm 2006, Colnago đã lấy nguồn cung cấp Primavera và Arte từ Giant Bicycles của Đài Loan. Cả hai đều nhận được đánh giá tích cực, mặc dù một số người cho rằng việc chuyển dịch sản xuất ra khỏi Ý là điều đáng tiếc.
Đã có một số tranh cãi vào năm 2006 về việc Giant có sản xuất thêm các mẫu xe khác, bao gồm cả các mẫu khung carbon, cho Colnago hay không. Theo tuyên bố của Ernesto Colnago, điều này không đúng:
""Đối với năm mẫu xe 2006, Colnago sẽ lấy nguồn cung cấp hai mẫu xe đạp đường trường nhôm cấp nhập môn từ Giant, được sản xuất theo thông số kỹ thuật và hình dạng khung của Colnago và chỉ được bán ở châu Âu và châu Á. Tất cả các xe đạp Colnago khác đều được lắp ráp tại Ý. Không có khung carbon Colnago nào được sản xuất tại Giant và sẽ không có, vì ông Colnago đã ký kết hợp đồng cung cấp lâu dài với ATR cho các khung xe đạp bằng sợi carbon.""
Mặc dù đã phủ nhận, nhưng kể từ năm 2007, khung carbon monocoque CLX của Colnago đã được sản xuất tại Đài Loan. Năm 2008, một mẫu carbon Colnago thứ hai, CX-1, cũng được sản xuất tại Đài Loan.
Khung xe Colnago cao cấp nhất, C64, cũng như Master và C60, C59, C50, Extreme Power, Extreme C hiện đã ngừng sản xuất, được sản xuất và sơn tại Ý. Trong một loạt các tuyên bố công khai, Colnago khẳng định rằng tất cả các thiết kế đều bắt nguồn từ nhóm thiết kế Ý, tuyên bố rằng bản chất của những gì tạo nên một chiếc Colnago là thiết kế. Các sản phẩm carbon tầm trung hiện đang được cung cấp từ Đài Loan (giống như nhiều sản phẩm của các nhà sản xuất xe đạp khác) và tính đến năm 2011, M10 (đứng thứ hai trong dòng sản phẩm) được sản xuất tại Đài Loan và lắp ráp và sơn tại Ý, trong khi CX-1 được sản xuất hoàn toàn tại Đài Loan.
Khung xe cao cấp nhất hiện nay, C64, là khung carbon duy nhất vẫn được sản xuất hoàn toàn tại Ý.
Khung xe đạp mục đích đặc biệt.
Đua xe đạp việt dã.
Trong những năm qua, Ernesto Colnago đã sản xuất khung thép cyclocross cho các tay đua chuyên nghiệp cá nhân và không bán bất kỳ khung thép nào ra công chúng. Một số ít khung đã được xác định, một khung đời đầu dựa trên Colnago Super và được chế tạo cho Roger de Vlaeminck. Khung này được bán trên eBay vào tháng 11 năm 2012 với giá khoảng 1200 đô la Mỹ. Một chiếc Colnago Super Cyclocross Team Kwantum Decosol Team 1985 đời thứ hai của Adrie Van Der Poel, không được liệt kê trong danh mục hoặc bán lẻ thông thường.
Một khung xe khác xuất hiện một vài năm trước, và dường như được sản xuất vào giữa đến cuối những năm 90, dựa trên Colnago Crystal, được dán nhãn cụ thể là "Master" trên giá đỡ phanh sau. Các mối nối và thanh yên tương tự như trên Crystal, ống lớn hơn một chút so với các mẫu xe đường trường khác (ống đứng 32mm OD, ống yên 29mm), chiều dài cơ sở thoải mái, ống trên dẫn hướng phanh sau và derailleur, dẫn hướng truyền thống cho derailleur trước nhưng không có điểm hàn cho derailleur trước. Vỏ trục dưới Colnago. Phuộc thẳng không có ren kiểu mtb (không có vương miện chính thức). Không có số sê-ri được đóng dấu trên chấu sau. Liên hệ với nhà máy Colnago không thể xác định năm hoặc cung cấp thêm thông tin.
Colnago đã sản xuất một vài chiếc xe đạp cho nhà vô địch đua xe đạp việt dã và MTB người Ý Luca Bramati. Bramati đã cưỡi chiếc xe đạp việt dã Colnago bằng thép, không lug màu vàng trong giải vô địch thế giới 1996 ở Munich, được coi là một trong những cuộc đua hấp dẫn nhất từ trước đến nay, nơi anh ấy xếp thứ ba. Xe đạp của anh ấy có phuộc trước với vương miện phuộc hàn truyền thống và bộ truyền động dây cáp trước/sau đầy đủ. Kích thước ống trông lớn hơn một chút và nhìn chung, chiếc xe đạp trông khá giống với chiếc xe đạp leo núi Colnago của Bramati mà anh ấy đã đua ở Atlanta trong Thế vận hội 1996.
Một chiếc xe đạp khác có thể được sản xuất cho Bert Hiemstra vào năm 1998/1999, tay đua của Rabobank. Đây là một khung thép không lug, có nhãn hiệu "Colnago Competition" với màu sắc của Rabobank, 59 cm CtT, được thiết lập với Dura Ace 9 tốc độ và phuộc unicrown.
Xe đạp leo núi.
Mặc dù không phổ biến hoặc được bán rộng rãi trên thị trường Mỹ, Colnago đã sản xuất một số mẫu xe đạp leo núi. Một số mẫu xe có thiết kế khung Master giống như xe đạp đường trường Colnago. |
Who Is Princess? (tạm dịch: Ai Là Công Chúa?) là một chương trình truyền hình thực tế sống còn của Nhật Bản. Chương trình là dự án hợp tác giữa FNC Entertainment Japan và Nippon TV với mục đích tạo ra một nhóm nhạc nữ Nhật Bản hướng đến khán giả toàn cầu. Chương trình được dẫn dắt bởi Takanori Nishikawa. Những người chiến thắng chương trình ra mắt với tư cách là nhóm Prikil vào tháng 5 năm 2022.
"Who Is Princess?" được công chiếu vào ngày 5 tháng 10 năm 2021 và có sẵn để phát trực tuyến trên Hulu Japan, GyaO!, Weverse, SoftBank VR Square và iQIYI. Một phiên bản rút gọn đã được đăng nhiều kỳ trên chương trình tạp kỹ "Shu-ichi" của Nippon TV với lời bình luận trực tiếp từ các tham luận viên của chương trình bắt đầu từ ngày 3 tháng 10 năm 2021.
"Who Is Princess?" được công bố lên sóng vào ngày 19 tháng 9 năm 2021. Chương trình được thực hiện với sự hợp tác của FNC Entertainment và Nippon TV nhằm tạo ra một nhóm nhạc nữ Nhật Bản gồm 5 thành viên với concept "girl crush" nhắm đến khán giả toàn cầu trong số 15 thí sinh. Bài hát chủ đề là "Fun" do Galactica sáng tác và video âm nhạc của nó được phát hành cùng ngày thông báo, với phần vũ đạo do Kiel Tutin biên đạo. Chương trình được dự kiến phát sóng trên Hulu Japan, GyaO!, Weverse, SoftBank VR Square, và iQiyi bắt đầu từ ngày 5 tháng 10 năm 2021. Một phiên bản rút gọn đã được đăng nhiều kỳ trên chương trình tạp kỹ "Shu-ichi" của Nippon TV với lời bình luận trực tiếp từ các tham luận viên của chương trình bắt đầu từ ngày 3 tháng 10 năm 2021.
Chương trình được dẫn dắt bởi Takanori Nishikawa. Những người cố vấn, được gọi là "huấn luyện viên "oni"", bao gồm Bae Eun-kyoung (vũ đạo), Ryoko Sato (thanh nhạc) và Mayuko Kawakita (người mẫu).
Các thí sinh trong "Who Is Princess?" bao gồm 15 cô gái, với độ tuổi trung bình kết hợp là 15,6.
Các thí sinh được chia thành hai nhóm: Công chúa và Thách thức. Trở thành Công chúa tăng cơ hội debut, trong khi trở thành Thách thức tăng nguy cơ bị loại.
Boys Group Dance Battle.
Nhiệm vụ 1 là Boys Group Dance Battle. Trong tập 1 đến tập 3, các thí sinh được Bae Eun-kyung chia thành hai nhóm, Công chúa và Thách thức, sau khi đánh giá video âm nhạc "Fun". Mỗi nhóm được giao vũ đạo từ các bài hát của nhóm nhạc nam. Sau đó, các thí sinh sẽ được phân nhóm lại dựa trên đánh giá của cố vấn và một thí sinh trong nhóm Thách thức sẽ bị loại khỏi chương trình.
Nhiệm vụ 2 là Solo Performance Battle. Trong các tập từ 4 đến 7, mỗi Công chúa và Người thách đấu phải đấu tay đôi trong một trận chiến biểu diễn hai vòng bao gồm biểu diễn giọng hát và biểu diễn vũ đạo. Ryoko Sato được giới thiệu là huấn luyện viên thanh nhạc, trong khi Bae Eun-kyoung giám sát phần trình diễn vũ đạo. Các thí sinh sau đó được phân bổ lại các nhóm dựa trên người cố vấn, với một thí sinh trong nhóm Thách thức bị loại khỏi chương trình.
"Popteen" Photo Shooting Battle.
Nhiệm vụ 3 là "Popteen" Photo Shooting Battle, do Mayuko Kawakita dẫn đầu với tư cách là cố vấn cho các thí sinh. Các thí sinh được giao nhiệm vụ chọn và phối hợp một bộ trang phục từ 551 món đồ theo một chủ đề, với buổi chụp ảnh được đăng trên tạp chí "Popteen" số tháng 1 năm 2022. Khi kết thúc, các thí sinh được đánh giá bởi Nishikawa, Kawakita, và người mẫu "Popteen" Non Koizumi và Yume Kawabata thông qua một buổi trình diễn trên sàn diễn và một buổi chụp hình. Nishikawa thông báo không có ai bị loại ở nhiệm vụ này.
J-pop × K-pop Performance Battle.
Nhiệm vụ 4 là J-pop × K-pop Perrformance Battle trong đó hai nhóm Công chúa và Thách thức được chia thành ba đội. Mỗi đội sẽ biểu diễn một bài hát J-pop với vũ đạo K-pop nguyên bản. Một thí sinh của đội thua cuộc sẽ bị loại.
Girls Group Performance Battle.
Nhiệm vụ 5 là Nhiệm vụ Bán kết, sau này được đổi tên thành Girls Group Performance Battle, nơi hai nhóm Công chúa và Thách thức biểu diễn một bài hát của một nhóm nhạc nữ K-pop. Hai thí sinh của nhóm Thách thức sẽ bị loại khỏi chương trình.
Original Song Performance Battle.
Trong các tập 13 đến 15, Nhiệm vụ Chung kết được chia thành hai vòng. Các nhóm biểu diễn bài hát chủ đề "Fun" cho vòng đầu tiên và "Somebody" - bài hát gốc của Galactica cho vòng thứ hai. Cả hai vòng đều được Galactica làm giám khảo. |
Meguri (, Meguri 4 tháng 5 năm 1989 –) là một thần tượng áo tắm, nữ diễn viên điện ảnh và nữ diễn viên khiêu dâm người Nhật Bản.
Cô sinh ra tại Tokyo. Tên cũ của cô là Fujiura Megu (, Fujiura Megu). Tên hiện tại của cô đã được sử dụng từ năm 2011.
Từ năm 2007, cô hoạt động với tư cách là thần tượng áo tắm Chaku-ero của công ti Pinky Net. Cô là thần tượng hàng đầu sử dụng tên "Quân đoàn Fuji" (藤軍団) của công ti. Số lượng đĩa DVD (Video hình ảnh) bán ra của cô cao khác thường, và trong khi một thần tượng áo tắm thông thường chỉ phát hành 1 đĩa mỗi 3 tháng ngay cả khi nổi tiếng, từ khi ra mắt cô đã liên tục phát hành đĩa hàng tháng trong hơn một năm. Điều này là khá đặc biệt trong lĩnh vực này. Ngoài ra, các sản phẩm về sau với nhiều phần hở hang hơn đã đạt doanh số kỉ lục.
1/1/2009, cô ra mắt ngành phim khiêu dâm (AV) với nhãn phim "Dream", nhãn phim thứ 5 của hãng MUTEKI, hãng phim dành riêng cho người nổi tiếng (hãng phim con của Hokuto). Trong cùng thời gian này, vào khoảng tháng 12/2008, cô đã lập trang cá nhân và blog (DMM Blog) trên trang DMM Adult (sau là DMM.R18). Ngoài ra, cô đã chuyển công ti chủ quản sang POPSTAR Group. Sau đó, cô đã trở thành nữ diễn viên khiêu dâm độc quyền của hãng S1 (S1 NO.1 STYLE, cũng là một hãng phim con của Hokuto) và là thành biên của nhóm thần tượng Ebisu Muscats (tháng 11/2008 - tháng 3/2010).
Năm 2010, cô tham gia thành lập nhóm thần tượng nữ diễn viên khiêu dâm BRW108. Vào tháng 9, cô thông báo trên trang blog chính thức rằng cô sẽ nghỉ một thời gian, và cô đã thông báo nghỉ việc trên blog chính thức vào tháng 12 cùng năm. Mặc dù thế, chính cô vẫn tiếp tục đăng bài trên Twitter.
Năm 2011, phim điện ảnh "Gangsta" mà cô đã đóng trước khi nghỉ việc đã được phát hành vào ngày 12/2, và cô đã xuất hiện trên sân khấu trong một buổi chào sân khấu vào ngày 26/2. Vào tháng 5, cô chuyển công ti chủ quản sang T-Powers và đổi tên thành Meguri. Vào tháng 7, cô trở lại ngành với tư cách là nữ diễn viên độc quyền cho nhãn phim con "SOD-ACE" của SOD Create. Trong cùng năm, cô đã tham gia thành lập nhóm thần tượng "me-me", nhóm dành cho năm nữ diễn viên khiêu dâm của công ti T-Powers (Ban đầu, tên diễn của cô được viết bằng chữ cái Latinh là "Meguri" tuy nhiên sau đó đã đổi sang viết bằng chữ hiragana là "めぐり"). Các thành viên khác của nhóm bao gồm Sakura Kokomi, Maika, Kamisaki Shiori và Naruse Kokomi. 11/2/2012, cô bắt đầu hoạt động với tư cách ca sĩ tại sự kiện "me-me Debut Live in Studio Cube 326". Ngày 13/9, cô đã thông báo trên blog sẽ tạm dừng hoạt động vì các vấn đề về hợp đồng.
Năm 2017, cô nghỉ việc nữ diễn viên khiêu dâm với phim "Nghỉ việc ~Gỡ lệnh cấm người không để lông mu~ Quan hệ chảy tràn tinh dịch không lông" (引退 ~パイパン解禁~ 無毛中出し性交) (Tameike Gorō). Trong cuộc phỏng vấn cuối cùng của cô với DMM NEWS R.18, cô đã nói rằng "Cảm ơn mọi người đã giúp tôi trở thành một nữ diễn viên khiêu dâm. Tôi rất vui. Công việc này rất thú vị! Tôi rất muốn nói "Cảm ơn" với tất cả mọi ngườ, chắc chắn là thế! Tôi yêu tất cả mọi người!!" và "Ngành phim khiêu dâm là một điều rất quan trọng với tôi. Hoạt động trong ngành rất bổ ích và tôi thật sự không muốn nghỉ việc!!".
Trước đây, khi được phỏng vấn trong chương trình Chuyện đêm muộn ngày thứ hai, cô đã nói rằng khi phỏng vấn, cô đã ứng cử cho vai diễn đôi xùng một người bạn, tuy nhiên nữ diễn viên đóng vai chính phải rời đi, nên cô bỗng được chọn cho vai chính, vai cô đã đóng trong hơn 20 phim V-cinema. Phim cô cảm thấy thú vị nhất là "Con người dâm đãng dễ nhìn thấu" (透明変態人間).
Vào tháng 11/2019, cô thông báo sẽ trở lại ngành phim khiêu dâm vào tháng sau đó.
Các hồ sơ trước đây.
Trong hồ sơ ban đầu của cô khi làm cho Pinky Net, ngày sinh của cô là 2/5/1990, nơi sinh là tỉnh Ibaraki và nhóm máu là A, tuy nhiên vào tháng 5 cùng năm, nơi sinh và nhóm máu của cô được chuyển thành Tokyo và O. Đến tháng 2/2008, tên của cô trong hồ sơ trên trang Pinky Net bắt đầu được viết là "Fujimegu (Fujiura Megu) của thế giới", và vào khoảng tháng 11/2007 năm sinh của cô đã được ẩn đi.
Một hồ sơ trên Sponichi Idol Report đăng ngày 15/7/2007 đã ghi rằng cô sinh ra tại Tokyo và có nhóm náu A, tuy nhiên vào hồ sơ đăng ngày 17/11/2007, hồ sơ với các thông tin ban đầu của cô đã được đăng tải.
Trong hồ sơ trên DMM Adult vào khoảng tháng 12/2008, ngay trước khi ra mắt ngành phim khiêu dâm, ngày sinh của cô được đổi tháng 4/5/1989 trên phần đầu trang (nơi sinh được ghi là Tokyo và nhóm máu là O).
Sở thích của cô là đi xe đạp một bánh và chơi bóng bàn, Trên trang chính thức của T-POWERS, cô còn được ghi là thích đi tắm suối nước nóng. |
Thổ (nguyên tố cổ điển)
Thổ (tiếng Anh: Earth) là một trong bốn nguyên tố cổ điển cùng với hỏa, thủy và không khí trong triết học, giả kim thuật, chiêm tinh học và thần thoại Hy Lạp cổ đại.
Nguyên tố Thổ cũng tương ứng với Địa đại trong hệ thống Tứ đại của Phật giáo Ấn Độ và hệ thống Ngũ đại (Godai, Ngũ đại) của triết học Nhật Bản, cũng như hành Thổ trong hệ thống Ngũ hành của Triết học Trung Quốc.
Triết học Hy Lạp và La Mã.
Thổ là đất, đại diện cho chất rắn, trạng thái đầu tiên của vật chất. Trong giả kim thuật, biểu tượng của thổ là một hình tam giác hướng xuống, được chia đôi bởi một đường ngang và là nguyên tố có tính chất khô, lạnh thứ hai. Thổ là một trong bốn nguyên tố cổ điển trong triết học và khoa học Hy Lạp cổ đại. Nó thường gắn liền với những đặc tính của sức nặng, vật chất và thế giới trên cạn. Do sự sùng bái anh hùng và các vị thần trong thế giới ngầm, nguyên tố thổ cũng gắn liền với các khía cạnh nhục dục của cả sự sống và cái chết trong thuyết huyền bí sau này .
Plato tin rằng các nguyên tố là các dạng hình học (các khối Platonic) và ông gán hình lập phương cho nguyên tố đất trong cuộc đối thoại của mìn. Aristotle tin rằng thổ là nguyên tố nặng nhất, và lý thuyết về "vị trí tự nhiên" của ông cho rằng bất kỳ "những vật chất chứa đầy đất" sẽ rơi nhanh chóng, thẳng xuống trung tâm vũ trụ.
Trong thần thoại Hy Lạp và La Mã cổ đại, nhiều nữ thần khác nhau đại diện cho đất, mùa màng và khả năng sinh sản, bao gồm Demeter và Persephone; Ceres; Horae (nữ thần của các mùa) và Proserpina ; và Hades vị thần cai trị linh hồn người chết trong Địa ngục .
Trong y học Hy Lạp cổ đại, mỗi thể dịch trong số bốn thể dịch đều gắn liền với một nguyên tố. Mật đen là chất được đồng nhất với thổ, vì cả hai đều lạnh và khô. Những thứ khác liên quan đến đất và mật đen trong y học cổ đại và trung cổ bao gồm mùa thu, vì nó làm tăng tính chất lạnh và khô cằn; tính khí u sầu (của một người bị chi phối bởi tính hài hước mật đen); nữ tính; và điểm phía nam của la bàn.
Phật giáo và triết học Ấn Độ.
Tứ đại (chữ Hán: 四大, tiếng Phạn: "cattāro mahābhūtāni") là bốn yếu tố lớn hình thành nên vật chất, gồm: Địa đại (地大, "pruṭhavī-dhātu"), Thủy đại (水大, "āpa-dhātu"), Hỏa đại (火大, "eja-dhātu") và Phong đại (風大, "vāyu-dhātu").
Địa đại có tính rắn chắc, có tác dụng bảo vệ, mọi thứ trong vũ trụ có lực hấp dẫn nổi bật (vật thể rắn) và các yếu tố đất bên trong bao gồm tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, v.v đều thuộc về Địa đại.
Triết học Nhật Bản.
Địa là một trong năm yếu tố của triết học Ngũ đại của Nhật Bản, bao gồm Địa (地/ ち "Chi"), Thuỷ (水/ すい "Sui"), Hoả (火/ か "Ka"), Phong (風/ ふう "Fū") và Không (空/ くう "Kū"). Nguồn gốc của nó là từ hệ thống Mahābhūta của Phật giáo Ấn Độ và được kết hợp, tinh chế cùng với truyền thống, văn hóa và tôn giáo dân gian bản địa của Nhật Bản.
Địa đại diện cho các vật thể cứng, rắn của Trái đất và cung cấp mọi thứ để thỏa mãn nhu cầu của con người. Địa chính là nguyên tố nằm ở tầng dưới cùng, với ý nghĩa là tầng nâng đỡ những tầng còn lại. Địa cứng rắn nhưng lại là vật thể vô tri vô giác, là nguyên tố cơ bản nhất nhưng không ẩn chứa quá nhiều năng lượng. Nếu xét trong tương quan cơ thể con người, Địa chính là xương, cơ bắp và các mô, là bộ khung nâng đỡ, đảm bảo cho sự sống được tiếp diễn. Xét về tính cách, Địa đại diện cho sự kiên định, sự ổn định và cả tính ích kỉ của con người.
Địa luân (地輪/ , Chirin) được xếp đầu tiên trong Ngũ luân tháp (五輪塔/ ごりんとう "Gorintō"), Địa luân có màu đại diện là màu vàng và nằm dưới cùng chân tháp. Người thuộc Địa luân thường sẽ tự tin, thận trọng trong suy nghĩ và hành động, tuy nhiên đôi lúc bảo thủ và cố chấp. |
Thủy (nguyên tố cổ điển)
Thủy (tiếng Anh: Water) là một trong bốn nguyên tố cổ điển cùng với thổ, hỏa và không khí trong triết học, giả kim thuật, chiêm tinh học và thần thoại Hy Lạp cổ đại.
Nguyên tố Thủy cũng tương ứng với Thủy đại trong hệ thống Tứ đại của Phật giáo Ấn Độ và hệ thống Ngũ đại (Godai, Ngũ đại) của triết học Nhật Bản, cũng như hành Thủy trong hệ thống Ngũ hành của Triết học Trung Quốc.
Triết học Hy Lạp và La Mã.
Thủy là nước, đại diện cho chất lỏng, trạng thái thứ hai của vật chất, được coi là vừa lạnh vừa ẩm và biểu tượng giả kim của nó là hình tam giác hướng xuống.
Nước là một trong nhiều điều cổ xưa được những người Tiền Socrates đề xuất, hầu hết họ đều cố gắng quy giản mọi thứ thành một chất duy nhất. Tuy nhiên, Empedocles của Acragas đã chọn bốn Archai cho bốn yếu tố của mình: thổ, thủy, không khí và hỏa. Nguồn gốc của Empedocles đã trở thành bốn yếu tố cổ điển của triết học Hy Lạp. Plato tiếp quản bốn yếu tố của Empedocles. Trong Timaeus, chất rắn Platon gắn liền với thủy là khối hai mươi mặt được hình thành từ hai mươi hình tam giác đều. Điều này làm cho thủy trở thành nguyên tố có số cạnh lớn nhất, Plato cho là phù hợp vì nước chảy ra khỏi tay người ta khi cầm lên, như thể nó được làm từ những quả bóng nhỏ xíu.
Học trò của Plato là Aristotle đã phát triển một cách giải thích khác cho các nguyên tố dựa trên các cặp tính chất. Bốn nguyên tố được sắp xếp đồng tâm xung quanh tâm Vũ trụ để tạo thành hình cầu phụ. Theo Aristotle, thủy vừa lạnh vừa ẩm ướt, chiếm một vị trí giữa không khí và thổ trong số các quả cầu nguyên tố.
Trong y học Hy Lạp cổ đại, mỗi thể dịch trong số bốn thể dịch đều gắn liền với một nguyên tố. Đờm là thể dịch được đồng nhất với thủy, vì cả hai đều lạnh và ẩm ướt. Những thứ khác liên quan đến thủy và đờm trong y học cổ đại và trung cổ là mùa Đông, vì nó làm tăng tính chất lạnh và ẩm, tính khí đờm, nữ tính và hướng tây của la bàn.
Triết học và Phật giáo Ấn Độ.
Trong Ấn Độ giáo, Deva là hiện thân của nước. Nguyên tố thủy cũng được liên kết với Chandra hoặc mặt trăng và Shukra , những người đại diện cho cảm xúc, trực giác và trí tưởng tượng.
Trong Phật giáo Ấn Độ, Tứ đại (chữ Hán: 四大, tiếng Phạn: "cattāro mahābhūtāni)" là bốn yếu tố lớn hình thành nên vật chất, gồm: Địa đại (地大, "pruṭhavī-dhātu"), Thủy đại (水大, "āpa-dhātu"), Hỏa đại (火大, "eja-dhātu") và Phong đại (風大, "vāyu-dhātu").
Thủy đại có tính lỏng ướt, đại diện cho sự thâu nhiếp, tập trung và mọi chất lỏng trong vũ trụ, bao gồm cả máu mủ dịch đờm trong cơ thể.
Triết học Nhật Bản.
Thủy là một trong năm nguyên tố của triết học Godai Nhật Bản, bao gồm Địa (地/ ち "Chi"), Thuỷ (水/ すい "Sui"), Hoả (火/ か "Ka"), Phong (風/ ふう "Fū") và Không (空/ くう "Kū"). Nguồn gốc của nó là từ hệ thống Mahābhūta của Phật giáo Ấn Độ và được kết hợp, tinh chế cùng với truyền thống, văn hóa và tôn giáo dân gian bản địa của Nhật Bản.
Thủy là dòng chảy mềm mại trung hòa sự cứng rắn của Địa. Nước là ao hồ rạch phá, là sông ngòi biển cả, nước cùng với đất đem lại sự sinh sôi cho cây cối. Nước cũng chính là dòng máu chảy trong huyết mạch mỗi người, lan truyền sự sống đến khắp nơi trong cơ thể. Nếu Địa là sự kiên định và cứng nhắc thì nước chính là sự uyển chuyển linh hoạt, thích nghi nhanh nhưng cũng chóng thay đổi.
Thủy luân (水輪/ , Suirin) được xếp thứ hai trong Ngũ luân tháp (五輪塔/ ごりんとう "Gorintō"), Thủy luân có màu đại diện là màu trắng, nằm trên Địa luân và nằm dưới Hỏa luân. Người thuộc Thủy luân rất dễ lung lay trước người khác, tuy nhiên có khả năng biến ứng với môi trường nhanh, nhạy. Những người này cũng rất quyến rũ, hấp dẫn với người khác giới.
Nghi lễ ma thuật.
Nước và nguyên tố khác đã được đưa vào hệ thống Golden Dawn, pháp khí cơ bản của nước là cái cốc. Mỗi nguyên tố có một số sinh vật tâm linh liên quan. Tổng lãnh thiên sứ của nước là Gabriel, thiên sứ là Taliahad, kẻ cai trị là Tharsis, vua là Nichsa và tinh linh nước được gọi là Undine. Nó được đề cập đến điểm phía trên bên phải của ngôi sao năm cánh trong Nghi thức cầu khẩn tối cao của ngôi sao năm cánh. Nhiều hiệp hội trong số này đã lan rộng khắp cộng đồng huyền bí. |
Tàu đổ bộ tấn công
Tàu đổ bộ tấn công là một loại tàu đổ bộ được sử dụng để đổ bộ và hỗ trợ lực lượng mặt đất trên lãnh thổ đối phương trong một cuộc đổ bộ tấn công. Thiết kế của loại tàu này được phát triển từ các tàu sân bay được chuyển đổi để dùng làm tàu sân bay trực thăng (do đó chúng thường bị nhầm với các tàu sân bay vận hành máy bay cánh cố định thông thường). Các thiết kế hiện đại hỗ trợ chúng mang tàu đổ bộ cỡ nhỏ với hầu hết các thiết kế đều bao gồm sàn giếng. Đối với bãi đáp, một số tàu đổ bộ tấn công cũng hỗ trợ vận hành máy bay cánh cố định V/STOL, hiện có vai trò thứ yếu như tàu sân bay.
Vai trò của tàu đổ bộ tấn công về cơ bản khác với vai trò của tàu sân bay tiêu chuẩn: các cơ sở hàng không của nó có vai trò chính là tiếp nhận trực thăng để hỗ trợ lực lượng trên bờ thay vì hỗ trợ máy bay tấn công. Tuy nhiên, một số tàu có khả năng phục vụ trong vai trò kiểm soát biển, vận hành các máy bay như Harrier hoặc biến thể F-35B của máy bay chiến đấu F-35 Lightning II để tuần tra trên không và trực thăng cho chiến tranh chống tàu ngầm hoặc hoạt động như một căn cứ an toàn cho số lượng lớn máy bay chiến đấu STOVL tiến hành hỗ trợ trên không đối với các đơn vị viễn chinh trên bờ. Hầu hết các tàu này cũng có thể chở hoặc hỗ trợ các tàu đổ bộ cỡ nhỏ, chẳng hạn như tàu đổ bộ đệm khí (ca nô đệm khí) hay LCU.
Hạm đội lớn nhất thuộc loại tàu này do Hải quân Hoa Kỳ vận hành, bao gồm các tàu lớp "Wasp" từ năm 1989 và các tàu lớp "America" được đưa vào sử dụng từ năm 2014. Giống như một tàu sân bay dẫn đầu một nhóm tác chiến tàu sân bay trong Hải quân Hoa Kỳ, một tàu đổ bộ tấn công dẫn đầu một nhóm tác chiến viễn chinh. Các tàu đổ bộ tấn công cũng được vận hành bởi Hải quân Hoàng gia Úc, Hải quân Brazil, Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Hải quân Ai Cập, Hải quân Pháp, Hải quân Ý, Hải quân Hàn Quốc, Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ và Hải quân Tây Ban Nha.
Thuật ngữ tàu đổ bộ tấn công thường được sử dụng thay thế cho các phân loại tàu khác. Nó được áp dụng cho tất cả các tàu đổ bộ boong lớn như landing platform helicopter (LPH), landing helicopter assault (LHA) và landing helicopter dock (LHD). |
Phong trào 30 tháng 9
Phong trào 30 tháng 9 (, viết tắt: G30S, còn được biết đến với tên viết tắt Gestapu của "Gerakan September Tiga Puluh") là một tổ chức tự xưng gồm các thành viên Lực lượng Vũ trang Quốc gia Indonesia. Vào đầu ngày 1 tháng 10 năm 1965, tổ chức này đã ám sát sáu tướng Lục quân Indonesia trong một cuộc đảo chính thất bại, dẫn đến tên gọi không chính thức nhưng chính xác hơn là Gestok, từ "Gerakan Satu Oktober", hay Phong trào 1 tháng 10. Cuối buổi sáng hôm đó, tổ chức này tuyên bố rằng họ đã nắm quyền kiểm soát các phương tiện và cơ quan truyền thông và đặt Tổng thống Sukarno dưới sự bảo vệ của mình. Đến cuối ngày, kế hoạch đảo chính đã thất bại ở Jakarta. Trong khi đó, ở miền trung Java xảy ra xung đột giành quyền kiểm soát một sư đoàn quân đội và một số thành phố. Vào thời điểm cuộc nổi loạn này bị dập tắt, có thêm hai sĩ quan cấp cao nữa đã thiệt mạng.
Trong những ngày và tuần sau đó, quân đội, các nhóm chính trị - xã hội và tôn giáo cáo buộc Đảng Cộng sản Indonesia (PKI) gây ra vụ đảo chính. Chẳng bao lâu sau, một cuộc thanh trừng hàng loạt đã được tiến hành, dẫn đến việc bỏ tù và giết chết những đảng viên và người có cảm tình thực sự hoặc bị nghi ngờ là Cộng sản. Dưới thời "Trật tự Mới", phong trào thường được gọi là "G30S/PKI" bởi những người muốn gắn nó với PKI và thuật ngữ này đôi khi cũng được chính phủ hiện tại sử dụng.
Các cuộc điều tra và thẩm vấn về mô tả của Suharto về sự kiện đã bị cản trở kéo dài ở Indonesia. Trong khi Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) ban đầu tin rằng Sukarno đã dàn dựng tất cả những điều đó, một số nguồn bên ngoài đã tìm thấy những mâu thuẫn và lỗ hổng trong các tuyên bố của quân đội, đặc biệt là Benedict Anderson và Ruth McVey, người đã viết "Cornell Paper" nhằm công kích sự kiện. |
Công tước xứ Teck
Công tước xứ Teck (tiếng Đức: "Herzog von Teck"; tiếng Anh: "Duke of Teck") là một tước hiệu được tạo ra hai lần ở Đức. Nó được tạo ra lần đầu tiên từ năm 1187 đến năm 1439 được trao cho người đứng đầu dòng phụ của Nhà Zähringen, một triều đại Công tước của Đức, được gọi là "Nhà Teck đầu tiên". Trụ sở của lãnh thổ này là Lâu đài Teck ở Công quốc Swabia (từ năm 1512 là một phần của Bá quốc Württemberg).
Tước hiệu này được Vua Karl I của Württemberg tái lập vào năm 1871 và trao cho người anh họ của mình là Francis, là sản phẩm của một cuộc hôn nhân quý tiện kết hôn nên không có danh hiệu quý tộc với tư cách là thành viên của Vương tộc Württemberg. Con cháu của ông định cư ở Vương quốc Anh và hôn phối với Vương thất Anh.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. |
Hệ thống ống nước
Hệ thống ống nước là bất kỳ hệ thống nào dẫn chất lỏng cho nhiều mục đích khác nhau. Hệ thống ống nước sử dụng các đường ống, van, thiết bị vệ sinh, bể chứa và các thiết bị khác để dẫn chất lỏng. Hệ thống sưởi và làm mát (HVAC), loại bỏ chất thải và cung cấp nước uống là một số ứng dụng phổ biến nhất của hệ thống ống nước, nhưng nó không giới hạn ở các ứng dụng này. Từ "Hệ thống ống nước" (plumbing) bắt nguồn từ tiếng Latin cho chì, plumbum, vì những đường ống hiệu quả đầu tiên được sử dụng trong thời kỳ La Mã là ống chì.
Ở các nước phát triển, cơ sở hạ tầng hệ thống ống nước đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng và vệ sinh.
Hệ thống cấp nước được bắt nguồn từ các nền văn minh cổ đại, khi họ phát triển các nhà tắm công cộng và cần cung cấp nước uống và loại bỏ nước thải cho số lượng lớn người hơn.
Người Mesopotamia đã giới thiệu với thế giới các đường ống cống đất sét vào khoảng năm 4000 trước Công nguyên, với những ví dụ sớm nhất được tìm thấy ở Đền Bel ở Nippur và Eshnunna, được sử dụng để loại bỏ nước thải khỏi các địa điểm và thu thập nước mưa trong giếng. Thành phố Uruk có những ví dụ lâu đời nhất được biết đến về các nhà vệ sinh được xây dựng bằng gạch, được xây dựng trên các đường ống cống đất sét nung kết nối với nhau, vào khoảng năm 3200 trước Công nguyên. Các đường ống đất sét sau đó được sử dụng trong thành phố Hattusa của người Hittite. Chúng có các đoạn dễ dàng tháo rời và thay thế, và cho phép vệ sinh.
Các đường ống dẫn nước bằng đất sét được tiêu chuẩn hóa với các mặt bích rộng sử dụng nhựa đường để ngăn chảy nước đã xuất hiện trong các khu định cư đô thị của nền văn minh Thung lũng Indus vào khoảng năm 2700 trước Công nguyên.
Ống đồng xuất hiện ở Ai Cập vào khoảng năm 2400 trước Công nguyên, với Kim tự tháp Sahure và khu phức hợp đền thờ liền kề ở Abusir được tìm thấy được kết nối bằng một ống thoát nước bằng đồng.
Từ "plumber" (thợ sửa ống nước) bắt nguồn từ thời Đế chế La Mã. Trong tiếng Latin, plumbum nghĩa là chì. Mái nhà của người La Mã sử dụng chì trong ống dẫn và ống thoát nước, và một số mái nhà cũng được lợp bằng chì. Chì cũng được sử dụng để làm ống và bồn tắm.
Hệ thống cấp nước đạt đến đỉnh cao ban đầu ở La Mã cổ đại, với sự xuất hiện của các hệ thống dẫn nước, loại bỏ nước thải bằng gạch và sử dụng rộng rãi các đường ống dẫn bằng chì. Người La Mã đã sử dụng các dòng chữ trên ống dẫn bằng chì để ngăn chặn việc trộm nước. Với sự sụp đổ của Đế chế La Mã, cả nguồn cung cấp nước và vệ sinh đều trì trệ hoặc thụt lùi trong hơn 1000 năm. Sự cải thiện diễn ra rất chậm, với rất ít tiến bộ hiệu quả được thực hiện cho đến khi các thành phố đông dân hiện đại phát triển vào những năm 1800. Trong thời kỳ này, các cơ quan y tế công cộng bắt đầu thúc ép lắp đặt các hệ thống xử lý chất thải tốt hơn để ngăn ngừa hoặc kiểm soát các dịch bệnh. Trước đó, hệ thống xử lý chất thải bao gồm việc thu gom chất thải và đổ xuống đất hoặc sông. Cuối cùng, sự phát triển của các hệ thống nước và nước thải ngầm riêng biệt đã loại bỏ các rãnh cống rãnh và hố xí lộ thiên.
Ở Kilwa giàu có thời hậu cổ điển, người dân giàu có đã được hưởng thụ hệ thống cấp nước trong nhà trong những ngôi nhà bằng đá của họ.
Hầu hết các thành phố lớn ngày nay đều dẫn chất thải rắn đến các nhà máy xử lý nước thải để tách và làm sạch một phần nước trước khi đổ ra suối hoặc các nguồn nước khác. Đối với mục đích sử dụng nước uống, ống sắt mạ kẽm là phổ biến ở Hoa Kỳ từ cuối những năm 1800 đến khoảng năm 1960. Sau giai đoạn đó, ống đồng đã chiếm ưu thế, đầu tiên là ống đồng mềm với phụ kiện loe, sau đó là ống đồng cứng sử dụng phụ kiện hàn.
Việc sử dụng chì cho nước uống đã giảm mạnh sau Chiến tranh thế giới thứ hai do nhận thức ngày càng tăng về những nguy hiểm của ngộ độc chì. Vào thời điểm này, ống đồng đã được giới thiệu như một giải pháp thay thế tốt hơn và an toàn hơn cho ống chì.
Các loại chính của hệ thống cấp nước hoặc hệ thống phụ là:
Ống nước là một loại ống hoặc ống dẫn, thường được làm bằng nhựa hoặc kim loại, được sử dụng để dẫn nước sạch đã được xử lý và tạo áp lực đến một tòa nhà (như một phần của hệ thống cấp nước đô thị), cũng như bên trong tòa nhà.
Chì là vật liệu được ưa chuộng cho ống nước trong nhiều thế kỷ vì khả năng uốn dẻo của nó giúp nó dễ dàng tạo thành hình dạng mong muốn. Việc sử dụng chì phổ biến đến mức từ "plumbing" (thợ sửa ống nước) bắt nguồn từ plumbum, từ tiếng Latin có nghĩa là chì. Đây là nguồn gây ra các vấn đề sức khỏe liên quan đến chì trong những năm trước khi các mối nguy hiểm về sức khỏe của việc ăn phải chì được hiểu đầy đủ; trong số đó có thai chết lưu và tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao. Ống nước bằng chì vẫn được sử dụng rộng rãi vào đầu thế kỷ 20 và vẫn còn tồn tại ở nhiều hộ gia đình. Thiếc-chì thường được sử dụng để nối ống đồng, nhưng thông lệ hiện đại sử dụng thiếc-antimon thay thế để loại bỏ nguy cơ nhiễm độc chì.
Mặc dù người La Mã thường sử dụng ống dẫn bằng chì, nhưng hệ thống dẫn nước của họ hiếm khi gây ngộ độc cho mọi người. Không giống như các nơi khác trên thế giới, nơi ống dẫn bằng chì gây ngộ độc, nước La Mã có rất nhiều canxi trong đó tạo thành một lớp mảng bám ngăn nước tiếp xúc với chính chì. Điều thường gây nhầm lẫn là một lượng lớn bằng chứng về ngộ độc chì lan rộng, đặc biệt là ở những người có thể dễ dàng tiếp cận với nước máy, một hậu quả đáng tiếc của việc sử dụng chì trong đồ nấu nướng và làm phụ gia cho thực phẩm và đồ uống đã qua chế biến (ví dụ như chất bảo quản trong rượu vang). Các dòng chữ trên ống dẫn bằng chì của La Mã cung cấp thông tin về chủ sở hữu để ngăn chặn việc trộm nước.
Ống gỗ được sử dụng ở London và những nơi khác trong thế kỷ 16 và 17. Các ống được làm từ những khúc gỗ rỗng được vát nhọn ở đầu với một lỗ nhỏ để nước chảy qua. Sau đó, nhiều ống được dán lại với nhau bằng mỡ động vật nóng. Ống gỗ được sử dụng ở Philadelphia, Boston và Montreal vào những năm 1800. Ống gỗ được xây dựng rộng rãi được sử dụng ở Hoa Kỳ trong thế kỷ 20. Những loại ống này (được sử dụng thay cho ống sắt gợn sóng hoặc ống bê tông cốt thép) được làm từ các đoạn cắt từ những khúc gỗ ngắn. Khóa các vòng liền kề bằng chốt dowel gỗ cứng tạo ra một cấu trúc linh hoạt. Khoảng 100.000 feet ống gỗ này đã được lắp đặt trong WW2 trong các cống thoát nước, cống bão và đường ống dẫn, dưới đường cao tốc và tại các trại quân đội, căn cứ hải quân, sân bay và nhà máy đạn dược.
Ống gang và ống gang dẻo trong thời gian dài là một lựa chọn thay thế rẻ hơn cho đồng trước khi có sự xuất hiện của vật liệu nhựa bền, nhưng phải sử dụng phụ kiện không dẫn điện đặc biệt ở những nơi chuyển đổi sang các ống kim loại khác (trừ phụ kiện đầu cuối) để tránh ăn mòn do phản ứng điện hóa giữa các kim loại khác nhau (xem tế bào galvanic).
Phụ kiện bằng đồng và các đoạn ống ngắn thường được sử dụng kết hợp với nhiều vật liệu khác nhau.
Sự khác biệt giữa ống và ống dẫn.
Sự khác biệt giữa ống và ống dẫn là về kích thước. Ví dụ, ống PVC cho các ứng dụng cấp nước và ống thép mạ kẽm được đo bằng kích thước ống sắt (IPS). Ống đồng, CPVC, PeX và các loại ống dẫn khác được đo lường danh nghĩa, về cơ bản là đường kính trung bình. Các sơ đồ kích thước này cho phép thích ứng phổ quát các phụ kiện chuyển tiếp. Ví dụ, ống PeX 1/2 "có cùng kích thước với ống đồng 1/2". Ngược lại, ống PVC 1/2 "không có cùng kích thước với ống 1/2", do đó cần có bộ điều hợp nam hoặc nữ ren để kết nối chúng. Khi sử dụng trong tưới tiêu nông nghiệp, dạng đơn số "ống" thường được sử dụng như dạng số nhiều.
Ống có sẵn trong các khớp nối cứng, có nhiều độ dài khác nhau tùy thuộc vào vật liệu. Ống dẫn, đặc biệt là ống đồng, có sẵn trong các khớp nối cứng được tôi cứng hoặc cuộn được tôi mềm (ủ). Ống dẫn PeX và CPVC cũng có sẵn trong các khớp nối cứng hoặc cuộn linh hoạt. Độ cứng của đồng, cho dù đó là khớp nối cứng hay cuộn linh hoạt, đều không ảnh hưởng đến kích thước.
Độ dày của thành ống và ống dẫn nước có thể khác nhau. Vì ống và ống dẫn là hàng hóa, nên có độ dày thành lớn hơn có nghĩa là chi phí ban đầu cao hơn. Ống có thành dày hơn thường có độ bền cao hơn và khả năng chịu áp lực cao hơn. Độ dày thành ống được biểu thị bằng các lịch trình khác nhau hoặc đối với ống polyethylene có đường kính lớn ở Vương quốc Anh theo Tỷ lệ kích thước tiêu chuẩn (SDR), được định nghĩa là tỷ lệ đường kính ống với độ dày thành ống. Độ dày thành ống tăng theo lịch trình và có sẵn trong các lịch trình 20, 40, 80 và cao hơn trong các trường hợp đặc biệt. Lịch trình phần lớn được xác định bởi áp suất hoạt động của hệ thống, với áp suất cao hơn thì độ dày lớn hơn. Ống đồng có sẵn với bốn độ dày thành: loại DWV (thành mỏng nhất; chỉ được phép sử dụng làm ống thoát nước theo UPC), loại 'M' (mỏng; thông thường chỉ được phép sử dụng làm ống thoát nước theo mã IPC), loại 'L' (dày hơn, nhiệm vụ tiêu chuẩn cho đường ống nước và dịch vụ nước) và loại 'K' (dày nhất, thường được sử dụng dưới lòng đất giữa đường chính và đồng hồ đo).
Độ dày thành không ảnh hưởng đến kích thước ống hoặc ống dẫn. Ống đồng L 1/2" có đường kính ngoài tương đương với ống đồng K hoặc M 1/2". Điều tương tự cũng áp dụng cho các lịch trình ống. Do đó, khi độ dày thành tăng lên, tổn thất áp lực sẽ tăng lên một chút do đường dẫn dòng chảy giảm. Nói cách khác, 1 foot ống đồng L 1/2" có thể tích hơi ít hơn 1 foot ống đồng M 1/2".
Các hệ thống cấp nước thời cổ đại dựa vào trọng lực để cung cấp nước, sử dụng các đường ống hoặc kênh dẫn thường được làm bằng đất sét, chì, tre, gỗ hoặc đá. Các khúc gỗ rỗng được bọc trong băng thép được sử dụng làm ống dẫn nước, đặc biệt là đường ống dẫn nước chính. Các khúc gỗ được sử dụng để phân phối nước ở Anh cách đây gần 500 năm. Các thành phố ở Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng các khúc gỗ rỗng vào cuối những năm 1700 và trong những năm 1800. Ngày nay, hầu hết các ống cấp nước được làm bằng thép, đồng và nhựa; hầu hết các ống thải (còn được gọi là "ống đất") được làm bằng thép, đồng, nhựa và gang.
Các đoạn thẳng của hệ thống cấp nước và thoát nước được gọi là "ống" hoặc "ống dẫn". Ống thường được tạo thành thông qua quá trình đúc hoặc hàn, trong khi ống dẫn được tạo thành thông qua quá trình đùn. Ống thường có thành dày hơn và có thể được ren hoặc hàn, trong khi ống dẫn có thành mỏng hơn và yêu cầu các kỹ thuật nối đặc biệt như hàn mạnh, phụ kiện nén, ép hoặc đối với nhựa, hàn dung môi. Các kỹ thuật nối này được thảo luận chi tiết hơn trong bài viết về phụ kiện ống và phụ kiện cấp nước.
Ống cấp và phân phối nước uống bằng thép mạ kẽm thường được tìm thấy với kích thước ống danh nghĩa từ 3⁄8 inch (9,5 mm) đến 2 inch (51 mm). Nó hiếm khi được sử dụng ngày nay cho hệ thống cấp nước dân dụng xây dựng mới. Ống thép có ren ống tiêu chuẩn National Pipe Thread (NPT), kết nối với ren ống côn cái trên cút, tê, nối ống, van và các phụ kiện khác. Thép mạ kẽm (thường được gọi đơn giản là "galv" hoặc "iron" trong ngành công nghiệp cấp nước) tương đối đắt và khó làm việc do trọng lượng và yêu cầu của máy cắt ren ống. Nó vẫn được sử dụng phổ biến để sửa chữa các hệ thống "galv" hiện có và đáp ứng các yêu cầu về khả năng chống cháy của mã xây dựng thường được tìm thấy trong khách sạn, chung cư và các ứng dụng thương mại khác. Nó cũng cực kỳ bền và chống chịu được sự lạm dụng cơ học. Ống thép sơn đen là vật liệu ống được sử dụng rộng rãi nhất cho hệ thống phun nước chữa cháy và khí đốt tự nhiên.
Hầu hết các hệ thống nhà ở gia đình thông thường sẽ không yêu cầu đường ống cấp lớn hơn 3⁄4 inch (19 mm) do chi phí cũng như xu hướng tắc nghẽn của đường ống thép do rỉ sét bên trong và các chất khoáng lắng đọng trên bên trong của ống theo thời gian sau khi lớp mạ kẽm bên trong bị xuống cấp. Trong dịch vụ phân phối nước uống, ống thép mạ kẽm có tuổi thọ khoảng 30 đến 50 năm, mặc dù không có gì lạ khi nó có tuổi thọ ngắn hơn ở những khu vực có chất gây ô nhiễm nước ăn mòn.
Ống và ống dẫn bằng đồng được sử dụng rộng rãi cho các hệ thống cấp nước gia đình trong nửa sau thế kỷ 20. Nhu cầu về các sản phẩm bằng đồng đã giảm do giá đồng tăng mạnh, dẫn đến nhu cầu tăng đối với các sản phẩm thay thế bao gồm PEX và thép không gỉ.
Ống nhựa được sử dụng rộng rãi cho cấp nước sinh hoạt và ống thoát nước thải (DWV). Các loại chính bao gồm: Polyvinyl chloride (PVC) được sản xuất thử nghiệm vào thế kỷ 19 nhưng không được thực tế để sản xuất cho đến năm 1926, khi Waldo Semon của BF Goodrich Co. phát triển một phương pháp để dẻo hóa PVC, giúp nó dễ dàng xử lý hơn. Ống PVC bắt đầu được sản xuất vào những năm 1940 và được sử dụng rộng rãi cho ống thoát nước thải trong quá trình tái thiết Đức và Nhật Bản sau Thế chiến II. Vào những năm 1950, các nhà sản xuất nhựa ở Tây Âu và Nhật Bản bắt đầu sản xuất ống acrylonitrile butadiene styrene (ABS). Phương pháp sản xuất polyethylene liên kết chéo (PEX) cũng được phát triển vào những năm 1950. Ống cấp nước bằng nhựa đã trở nên ngày càng phổ biến, với nhiều loại vật liệu và phụ kiện được sử dụng.
Hệ thống cấp nước hiện nay sử dụng một mạng lưới các máy bơm áp suất cao và các đường ống trong các tòa nhà hiện được làm bằng đồng, đồng thau, nhựa (đặc biệt là polyethylene liên kết chéo gọi là PEX, được ước tính được sử dụng trong 60% nhà ở gia đình), hoặc các vật liệu không độc hại khác. Do độc tính của nó, hầu hết các thành phố đã chuyển từ việc sử dụng ống dẫn nước bằng chì vào những năm 1920 ở Hoa Kỳ, mặc dù ống dẫn bằng chì vẫn được phê duyệt bởi các quy định về cấp nước quốc gia cho đến những năm 1980, và chì được sử dụng trong hàn ống nước cho nước uống cho đến khi nó bị cấm vào năm 1986. Đường thoát nước và thông gió được làm bằng nhựa, thép, gang hoặc chì.
Ngoài các đoạn ống hoặc ống dẫn, các phụ kiện đường ống như van, khuỷu, tê và nối ống được sử dụng trong hệ thống cấp nước.. Ống và phụ kiện được giữ cố định bằng giá đỡ và dây đai ống.
Thiết bị vệ sinh là các thiết bị có thể thay thế sử dụng nước và có thể được kết nối với hệ thống cấp nước của tòa nhà. Chúng được coi là "đồ đạc cố định", vì chúng là các bộ phận bán cố định của tòa nhà, thường không được sở hữu hoặc bảo trì riêng biệt. Thiết bị vệ sinh được nhìn thấy và được thiết kế cho người dùng cuối. Một số ví dụ về đồ đạc cố định bao gồm nhà vệ sinh (còn được gọi là bồn cầu), bệ tiểu, bồn tiểu, vòi hoa sen, bồn tắm, bồn rửa tiện ích và nhà bếp, vòi uống nước, máy làm đá, máy tạo độ ẩm, máy rửa không khí, đài phun nước và trạm rửa mắt.
Các mối nối ống có ren được niêm phong bằng băng niêm phong ren hoặc keo dán ống. Nhiều thiết bị sửa ống nước được niêm phong với bề mặt gắn của chúng bằng putty của thợ sửa ống nước.
Thiết bị và dụng cụ.
Thiết bị sửa ống nước bao gồm các thiết bị thường được đặt sau tường hoặc trong các không gian tiện ích mà công chúng không nhìn thấy. Nó bao gồm đồng hồ nước, máy bơm, bình giãn nở, thiết bị chống dòng chảy ngược, bộ lọc nước, đèn khử trùng UV, máy làm mềm nước, máy nước nóng, bộ trao đổi nhiệt, đồng hồ đo và hệ thống điều khiển.
Có rất nhiều dụng cụ mà một thợ sửa ống nước cần để thực hiện công việc sửa ống nước tốt. Trong khi nhiều công việc sửa ống nước đơn giản có thể được hoàn thành với một số dụng cụ cầm tay thông dụng, thì các công việc phức tạp hơn khác yêu cầu các dụng cụ chuyên dụng, được thiết kế đặc biệt để làm cho công việc dễ dàng hơn.
Các dụng cụ sửa ống nước chuyên dụng bao gồm cờ lê ống, kìm mỏ lết, kẹp ống, máy uốn ống, máy cắt ống, khuôn và các dụng cụ nối như đèn hàn và dụng cụ uốn. Các công cụ mới đã được phát triển để giúp thợ sửa ống nước khắc phục các vấn đề một cách hiệu quả hơn. Ví dụ, thợ sửa ống nước sử dụng máy quay video để kiểm tra các vết rò rỉ ẩn hoặc các vấn đề khác; họ cũng sử dụng tia nước và máy bơm thủy lực áp suất cao được kết nối với cáp thép để thay thế đường ống cống không cần đào.
Lũ lụt do mưa lớn hoặc cống bị tắc có thể yêu cầu thiết bị chuyên dụng, chẳng hạn như xe tải bơm hút hạng nặng được thiết kế để hút chân không nước thải.
Vi khuẩn đã được chứng minh là có thể sống trong "hệ thống ống nước trong nhà". Hệ thống ống nước trong nhà là "hệ thống đường ống và đồ đạc bên trong tòa nhà vận chuyển nước đến vòi sau khi được cơ sở hạ tầng cấp nước cung cấp". Các hệ thống cấp nước cộng đồng đã được biết đến trong nhiều thế kỷ là nguyên nhân gây ra các bệnh lây truyền qua đường nước như thương hàn và tả. Tuy nhiên, "các mầm bệnh cơ hội trong hệ thống ống nước trong nhà" chỉ mới được nhận ra gần đây: Legionella pneumophila, được phát hiện vào năm 1976, Mycobacterium avium và Pseudomonas aeruginosa là những vi khuẩn được theo dõi phổ biến nhất, những người có hệ miễn dịch suy giảm có thể hít hoặc ăn phải và có thể bị nhiễm trùng.
Một số vị trí mà các mầm bệnh cơ hội này có thể phát triển bao gồm vòi nước, đầu vòi hoa sen, máy nước nóng và dọc theo thành ống. Lý do thuận lợi cho sự phát triển của chúng là "tỷ lệ diện tích bề mặt trên thể tích cao, ứ đọng không liên tục, dư lượng chất khử trùng thấp và chu kỳ làm nóng". Tỷ lệ diện tích bề mặt trên thể tích cao, nghĩa là diện tích bề mặt tương đối lớn cho phép vi khuẩn hình thành lớp màng sinh học, bảo vệ chúng khỏi quá trình khử trùng.
Hầu hết các công việc sửa ống nước ở khu vực đông dân đều được quản lý bởi các cơ quan chính phủ hoặc bán chính phủ do tác động trực tiếp đến sức khỏe, sự an toàn và phúc lợi của cộng đồng. Công việc lắp đặt và sửa chữa ống nước tại nhà ở và các tòa nhà khác nói chung phải được thực hiện theo các quy định về sửa ống nước và xây dựng để bảo vệ người dân trong các tòa nhà và đảm bảo chất lượng xây dựng an toàn cho người mua tương lai. Nếu cần có giấy phép cho công việc, các nhà thầu sửa ống nước thường sẽ xin phép cơ quan chức năng thay mặt cho chủ nhà hoặc chủ tòa nhà.
Ở Úc, cơ quan quản lý nhà nước về quy định sửa ống nước là Hội đồng Quy tắc Xây dựng Quốc gia Úc (ABCB). ABCB chịu trách nhiệm tạo ra Bộ Quy tắc Xây dựng Quốc gia (NCC), trong đó Quy định Sửa ống nước 2008 và Bộ Quy tắc Sửa ống nước Úc, thuộc Tập 3 của NCC thuộc về lĩnh vực sửa ống nước.
Mỗi Chính phủ cấp tiểu bang đều có Cơ quan quản lý và quy định riêng về việc cấp phép hành nghề thợ sửa ống nước. Họ cũng chịu trách nhiệm giải thích, quản lý và thực thi các quy định được nêu trong Bộ quy tắc xây dựng quốc gia (NCC). Các Cơ quan này thường được thành lập với mục đích duy nhất là điều chỉnh hoạt động sửa ống nước ở các tiểu bang/lãnh thổ tương ứng. Tuy nhiên, một số quy định cấp tiểu bang đã khá lỗi thời, một số vẫn hoạt động dựa trên các chính sách địa phương được đưa ra cách đây hơn một thập kỷ. Điều này đã dẫn đến sự gia tăng các vấn đề liên quan đến quy định sửa ống nước không được quy định trong chính sách hiện hành, và do đó, nhiều chính sách hiện đang được cập nhật để giải quyết các vấn đề hiện đại hơn này. Các cập nhật bao gồm thay đổi đối với yêu cầu kinh nghiệm và đào tạo tối thiểu để cấp phép, tiêu chuẩn công việc bổ sung cho các loại sửa ống nước mới và cụ thể hơn, cũng như việc áp dụng Bộ quy tắc sửa ống nước của Úc vào các quy định của tiểu bang trong nỗ lực chuẩn hóa các quy định sửa ống nước trên toàn quốc.
Ở Na Uy, hệ thống ống nước dân dụng mới được lắp đặt kể từ năm 1997 phải đáp ứng yêu cầu là phải dễ dàng tiếp cận để thay thế sau khi lắp đặt. Điều này đã dẫn đến việc phát triển hệ thống ống trong ống như một yêu cầu thực tế đối với hệ thống ống nước dân dụng.
Tại Vương quốc Anh, cơ quan chuyên môn là Viện Kỹ thuật Ống nước và Sưởi ấm Hoàng gia (tổ chức từ thiện giáo dục) và đúng là nghề này vẫn hầu như không có sự quản lý nào; không có hệ thống nào được thiết lập để theo dõi hoặc kiểm soát hoạt động của thợ sửa ống nước không có trình độ hoặc những chủ nhà chọn tự thực hiện các công việc lắp đặt và bảo trì, mặc dù có các vấn đề về sức khỏe và an toàn phát sinh từ các công việc đó khi chúng được thực hiện không chính xác; xem Health Aspects of Plumbing (HAP) được xuất bản chung bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hội đồng Ống nước Thế giới (WPC). WPC sau đó đã bổ nhiệm một đại diện cho Tổ chức Y tế Thế giới để thực hiện các dự án khác nhau liên quan đến các khía cạnh sức khỏe của hệ thống ống nước.
Tại Hoa Kỳ, quy định về hệ thống ống nước và cấp phép hành nghề thường được kiểm soát bởi chính quyền cấp tiểu bang và địa phương. Ở cấp quốc gia, Cơ quan Bảo vệ Môi trường đã đặt ra các hướng dẫn về những gì cấu thành phụ kiện và đường ống hệ thống ống nước không chì, để tuân thủ Đạo luật Nước uống An toàn.
Một số Tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ là |
Vườn quốc gia Nyungwe
Vườn quốc gia Nyungwe () là một vườn quốc gia nằm ở phía tây nam Rwanda, trên khu vực biên giới với Burundi, tiếp giáp với vườn quốc gia Kibira về phía nam, tiếp giáp với hồ Kivu và biên giới với Cộng hòa Dân chủ Congo về phía tây. Nó bảo vệ khu vực rừng nhiệt đới Nyungwe, có lẽ là rừng nhiệt đới trên núi được bảo tồn tốt nhất ở Châu Phi. Vườn quốc gia này nằm ở giữa lưu vực sông Congo ở phía tây và lưu vực sông Nin về phía đông. Phía đông của Nyungwe cũng là một trong những nhánh của nguồn sông Nin.
Được thành lập vào năm 2005 với diện tích khoảng , nó bao gồm rừng nhiệt đới, rừng tre, đồng cỏ, đầm lầy và đầm lầy than bùn. Thị trấn gần nhất là Cyangugu nằm về phía tây vườn quốc gia khoảng . Trong ranh giới vườn quốc gia là núi Bigugu cao .
Vào tháng 10 năm 2020, Ban Phát triển Rwanda đã ký một thỏa thuận với tổ chức Công viên Châu Phi để đảm nhận quyền quản lý Vườn quốc gia Nyungwe trong 20 năm.
Khu bảo tồn rừng Nyungwe được chính quyền thuộc địa Bỉ thành lập vào năm 1933. Vào những năm 1920, chính quyền thuộc địa đã lo ngại về việc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi đất rừng thành đồng cỏ. Luật quản lý trữ lượng rừng của Rwanda cấm phá rừng để làm nông nghiệp, nhưng vẫn duy trì quyền của cộng đồng trong việc khai thác gỗ và thu thập củi, đồng thời cho phép khai thác thương mại gỗ cứng có giá trị. Việc quản lý lỏng lẻo và người dân địa phương tiếp tục săn bắn, lấy mật ong, đốn củi, canh tác tự cung tự cấp và khai thác vàng.
Rwanda giành được độc lập vào năm 1962 và Bộ Nông nghiệp quản lý khu vực rừng. Từ năm 1958 đến năm 1973, rừng Nyungwe bị giảm hơn 150 km² do hỏa hoạn, khai thác gỗ, săn bắn động vật và canh tác nông nghiệp quy mô nhỏ. Khu rừng Gishwati và Virunga gần đó lúc này đã bị khai thác nghiêm trọng và chia tách làm đôi. Năm 1984, Nyungwe được chia thành các khu vực cho phép sử dụng và khai thác gỗ bền vững. Chính phủ Rwanda đã phát triển một kế hoạch cho vùng đệm mà ngày nay vẫn còn tồn tại. Năm 1994, chiến tranh và diệt chủng đã tàn phá đất nước và phá hủy nhiều cơ sở nghiên cứu và du lịch ở Uwinka. Hầu hết các nhân viên cấp cao buộc phải di tản, nhưng nhiều nhân viên tại Nyungwe vẫn ở lại để bảo vệ vườn quốc gia. Vườn quốc gia bắt đầu được xây dựng lại vào năm 1995, nhưng an ninh vẫn chưa được đảm bảo. Năm 1999, con voi cuối cùng ở Nyungwe bị những kẻ săn trộm giết chết trong khu vực đầm lầy.
Năm 2005, Chính phủ Rwanda đã đưa Nyungwe trở thành vườn quốc gia, trao cho nó tình trạng được bảo vệ ở mức độ cao nhất trong cả nước.
Năm 2023, cùng với Các địa điểm tưởng niệm của sự Diệt chủng: Nyamata, Murambi, Gisozi và Bisesero, vườn quốc gia này chính thức trở thành hai Di sản thế giới đầu tiên được công nhận ở Rwanda.
Khu vực này có sự đang dạng về các loài động vật nên được ưu tiên bảo tồn tại châu Phi. Đây là nhà của 13 loài linh trưởng (25% tổng số loài ở châu Phi), 275 loài chim, 1068 loài thực vật, 85 loài động vật có vú, 32 loài lưỡng cư và 38 loài bò sát. Nhiều loài động vật trong số này là loài có phạm vi sống giới hạn, chỉ được tìm thấy ở vùng sinh thái rừng vùng núi Đới tách giãn Albertine ở Châu Phi. Trên thực tế, số lượng loài đặc hữu ở đây nhiều hơn bất kỳ khu rừng nào khác ở Albertine đã được khảo sát. Khu rừng trong vườn quốc gia đạt độ cao tối đa 3000 mét so với mực nước biển đặc biệt được quan tâm vì sự hiện diện của các đàn tinh tinh, và khỉ colobus Angola, loài hiện đã tuyệt chủng ở Angola vì bị săn lùng gắt gao. Một số loài đáng chú ý khác gồm khỉ núi, khỉ bạc, khỉ vàng, khỉ mặt cú, khỉ đuôi đỏ, khỉ đầu chó olive, khỉ bạc má. |
Không gian học tập
Không gian học tập hoặc bối cảnh học tập đề cập đến một bối cảnh vật lý cho môi trường học tập, một nơi mà việc giảng dạy và học tập diễn ra. Thuật ngữ này thường được sử dụng như một thuật ngữ thay thế xác định hơn cho "phòng học" nhưng nó cũng có thể chỉ một địa điểm trong nhà hoặc ngoài trời, thực tế hoặc ảo. Không gian học tập rất đa dạng về cách sử dụng, cấu hình, vị trí và cơ sở giáo dục. Chúng hỗ trợ nhiều phương pháp sư phạm khác nhau, bao gồm học tập yên tĩnh, học tập thụ động hoặc chủ động, học tập vận động hoặc thể chất, học tập nghề, học tập trải nghiệm và những phương pháp khác. Vì thiết kế của không gian học tập tác động đến quá trình học tập, nên việc thiết kế không gian học tập theo hướng đến quá trình học tập được coi là rất quan trọng.
Từ "school" trong tiếng Anh bắt nguồn từ từ "σχολή" (scholē) trong tiếng Hy Lạp, ban đầu có nghĩa là "giải trí" và cũng có nghĩa là "thứ mà giải trí được sử dụng", và sau đó có nghĩa là "một nhóm người được giảng bài, trường học". Từ tiếng Nhật cho trường học, "gakuen" (学校), có nghĩa là "khu vườn học tập" hoặc "khu vườn của sự học tập". Từ "kindergarten" trong tiếng Anh là một từ tiếng Đức có nghĩa đen là "khu vườn cho trẻ em", tuy nhiên thuật ngữ này được tạo ra theo nghĩa bóng của một "nơi trẻ em có thể phát triển một cách tự nhiên".
Qua thời gian, các phương pháp giảng dạy khác nhau đã dẫn đến các loại không gian học tập khác nhau. Giảng dạy trực tiếp có lẽ là phương pháp giáo dục chính thức, có cấu trúc lâu đời nhất của nền văn minh và tiếp tục là một hình thức phổ biến trên khắp thế giới. Về bản chất, nó liên quan đến việc truyền đạt thông tin từ người có nhiều kiến thức sang người có ít kiến thức hơn, có thể nói chung hoặc liên quan đến một môn học hoặc ý tưởng cụ thể. Phương pháp này thường được sử dụng trong các lớp học truyền thống.
Phương pháp Socratic được phát triển cách đây hơn hai thiên niên kỷ để đáp ứng với việc giảng dạy trực tiếp trong các trường học của Hy Lạp cổ đại. Hình thức đối thoại, đặt câu hỏi của nó tiếp tục là một hình thức học tập quan trọng trong các trường luật phương Tây. Phương pháp này thường được sử dụng trong các phòng hội thảo và giảng đường nhỏ hơn.
Học tập thực hành, một hình thức học tập tích cực và trải nghiệm, có trước ngôn ngữ và khả năng truyền đạt kiến thức bằng các phương tiện khác ngoài việc trình diễn, và đã được chứng minh là một trong những phương tiện học tập hiệu quả hơn và trong hai thập kỷ qua đã được trao cho một vai trò ngày càng quan trọng trong giáo dục. Phương pháp này được sử dụng trong các không gian học tập ngoài trời, phòng thí nghiệm chuyên biệt, xưởng phim, cửa hàng nghề, không gian sáng tạo và trong các cơ sở giáo dục thể chất.
Đặc điểm vật lý và/hoặc ảo của không gian học tập đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả của chúng và, bằng cách tác động đến việc học tập của học sinh, đối với xã hội. Winston Churchill đã nói: "Chúng ta định hình các tòa nhà của mình và sau đó các tòa nhà của chúng ta định hình chúng ta."
Tầm quan trọng của sự tương tác giữa cá nhân và môi trường của họ từ lâu đã được thiết lập bởi lý thuyết trường và không gian sống của Kurt Lewin, khái niệm vi hệ thống của Urie Bronfenbrenner, lý thuyết học tập theo tình huống của Jean Lave và Etienne Wenger và những người khác Nghiên cứu tiếp tục cho chúng ta thấy rằng học tập tích cực và không gian học tập được thiết kế để hỗ trợ học tập tích cực góp phần vào việc học tập hiệu quả hơn và khuyến khích các phương pháp giảng dạy khác nhau.
Đặc điểm không gian.
Không gian học tập không còn giới hạn trong các cơ sở giáo dục truyền thống. Chúng ngày càng đa dạng về phong cách, cấu hình và địa điểm. Đặc điểm vật lý của chúng bao gồm nhiều biến số, chẳng hạn như kích thước, hình thức và hình dạng; môi trường; công nghệ; loại không gian và tính phù hợp với hoạt động và người dùng dự định; vị trí; và nhiều người khác. Một nguyên tắc cơ bản của không gian học tập trong nhà là cung cấp nơi trú ẩn, mặc dù nhiều cơ sở từ trường học đến phòng học di động không cung cấp nơi trú ẩn giữa các không gian riêng lẻ. Không gian học tập ngoài trời dựa vào quần áo và vật dụng cá nhân để duy trì sự thoải mái.
Vị trí của không gian học tập ảnh hưởng đến cả mối quan hệ chức năng và vận hành của nó với các không gian khác, nhóm sinh viên và giảng viên, chương trình học tập và không gian hỗ trợ. Tỷ lệ chiều cao-chiều rộng-chiều dài của một không gian có thể ảnh hưởng đến khả năng của người học nhìn thấy tài liệu hướng dẫn hoặc trình diễn hoặc người thuyết trình. Hướng của không gian về phía các không gian liền kề hoặc môi trường ngoài trời có thể ảnh hưởng đến các hoạt động, sự thoải mái về nhiệt độ, cũng như sự thâm nhập của ánh sáng ban ngày (nếu có) vào các thời điểm khác nhau trong ngày.
Nhu cầu về tính linh hoạt và khả năng thích ứng ngày càng tăng đã thấy việc sử dụng nhiều hơn các vách ngăn di động để kết hợp và tách biệt các không gian. Sự an toàn và an ninh trong các trường học, bao gồm các vụ bạo lực, bắt nạt và phá hoại lớn đã dẫn đến việc sử dụng nhiều hơn các hệ thống giám sát an ninh, các chiến lược như phòng chống tội phạm thông qua thiết kế môi trường (CPTED) và đôi khi là các cuộc thảo luận cạnh tranh về tính minh bạch so với việc phong tỏa có thể nhìn thấy của các không gian học tập.
Sự thoải mái về nhiệt độ của một không gian học tập rất quan trọng đối với sự thoải mái của học sinh và do đó, đối với việc học tập. Điều này bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố: nhiệt độ phòng xung quanh, lưu thông không khí (qua cửa sổ mở, thông gió cơ học, gió lùa qua các bề mặt lạnh và quạt phòng) và ánh nắng mặt trời. Việc cách nhiệt cửa sổ, cửa sổ có bóng che và bố trí cẩn thận các ống thông gió đều có thể ảnh hưởng đến sự thoải mái.
Mức độ thông gió thích hợp rất quan trọng đối với sức khỏe, sự thoải mái và chức năng nhận thức của người cư ngụ, tất cả đều cần thiết cho việc học tập hiệu quả. Các nghiên cứu gần đây tại Đại học Harvard và Đại học Syracuse đã báo cáo rằng các tạp chất trong không khí có thể gây suy giảm nhận thức đáng kể. Thiếu hụt nhận thức đáng kể được quan sát thấy trong điểm số thực hiện trong môi trường có nồng độ ngày càng tăng của các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) hoặc carbon dioxide. Mức độ tạp chất cao nhất đạt được trong nghiên cứu không phải là hiếm gặp ở một số môi trường lớp học hoặc văn phòng. Lọc không khí để giảm bụi và phấn hoa có thể rất quan trọng để giúp ngăn ngừa các phản ứng dị ứng ở học sinh.
Các lý thuyết cho rằng việc nhìn ra ngoài cửa sổ gây mất tập trung là một trong những động lực chính cho việc xây dựng các lớp học không có cửa sổ vào những năm 1960 và 1970. Các nghiên cứu gần đây hơn đã chứng minh rằng tầm nhìn ra thiên nhiên có khả năng cải thiện sức khỏe và tinh thần, và những môi trường kích thích hơn có thể thúc đẩy sự cải thiện trong việc học tập và ghi nhớ. Các bác sĩ nhãn khoa đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhìn xa để giúp thư giãn mắt khi làm việc gần, chẳng hạn như trên màn hình video hoặc máy tính. Lý thuyết phục hồi sự chú ý cho rằng tầm nhìn ra khung cảnh thiên nhiên có khả năng khôi phục khả năng tập trung và chú ý của một người sau hoạt động nhận thức căng thẳng..
Ánh sáng tự nhiên.
Ánh sáng tự nhiên trong bất kỳ không gian nào đều có thể được cung cấp thông qua cửa sổ, cửa ra vào hoặc giếng trời. Cung cấp ánh sáng tự nhiên đã được chứng minh là có tác động cao đến không gian học tập. Được kiểm soát và bố trí đúng cách, nó đã được chứng minh là có tác động tích cực đáng kể đến kết quả học tập và hành vi của học sinh. Nếu không được kiểm soát và bố trí đúng cách, nó có thể cản trở khả năng đọc, xem tài liệu trình diễn hoặc gây khó chịu về thể chất. Các phương pháp kiểm soát bao gồm rèm cửa sổ cố định hoặc có thể điều chỉnh, màn che nắng bên ngoài, kệ đèn bên trong hoặc "kính thông minh" có thể làm mờ.
Đối với những không gian học tập không có đủ ánh sáng tự nhiên, thì ánh sáng nhân tạo là cần thiết để hỗ trợ việc học tập hiệu quả. Mức độ chiếu sáng, loại ánh sáng, khả năng hiển thị màu sắc và loại thiết bị chiếu sáng đều là những thành phần quan trọng cho các phong cách và hoạt động học tập khác nhau. Các lớp học có giảng dạy trực tiếp yêu cầu mức độ chiếu sáng khác với những lớp học sử dụng màn hình máy tính hoặc video. Có thể cần ánh sáng tác vụ cụ thể để bổ sung cho ánh sáng chung trong phòng thí nghiệm khoa học, xưởng nghề hoặc phòng tập thể dục. Khả năng hiển thị màu sắc và nhiệt độ màu (màu sắc cảm nhận được của ánh sáng) có thể ảnh hưởng đến tâm trạng của học sinh và nội dung giáo dục hoặc dự án (ví dụ: dự án nghệ thuật). Cũng như ánh sáng tự nhiên, việc cá nhân hóa ánh sáng thông qua điều khiển thủ công của người dùng có thể cung cấp khả năng linh hoạt và sự hài lòng của người dùng cao nhất.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ em cần không gian học tập yên tĩnh hơn với ít tiếng vang hơn để nghe và hiểu các từ được nói hơn người lớn. Ngay cả những người nghe bình thường, khỏe mạnh dưới 13 tuổi cũng gặp khó khăn hơn nhiều trong việc phân biệt tín hiệu bằng lời nói với tiếng ồn nền. Học sinh bị mất thính lực (ví dụ, do nhiễm trùng tai), đang học ngôn ngữ mới hoặc có vấn đề về thính giác hoặc chú ý cần âm thanh thuận lợi hơn để hiểu lời nói. Để đáp ứng, Viện Tiêu chuẩn Quốc gia Hoa Kỳ (ANSI) đã giảm giới hạn chấp nhận được của tiếng ồn nền trong lớp học xuống 35 dBA và 55 dBC.
Bề mặt của tường, sàn, trần và đồ nội thất có thể ảnh hưởng đáng kể đến chức năng, độ bền và hiệu quả của không gian học tập. Độ phản xạ của bề mặt ảnh hưởng đến mức độ ánh sáng, độ chói, tâm trạng và độ hiển thị màu sắc. Âm học bị ảnh hưởng bởi khả năng hấp thụ âm thanh của trần, tường và sàn nhà; thảm làm giảm tiếng ồn va đập của bàn chân và tiếng vang; trần thạch cao hoặc thạch膏 sơn tăng độ vang và độ rõ của lời nói. Độ bền, ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ theo thời gian, có thể quyết định tính hữu ích và hiệu quả lâu dài của không gian, bao gồm cả tác động lâu dài đến sức khỏe của học sinh. Vệ sinh cũng là một yếu tố trong việc duy trì môi trường lành mạnh, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ, những người có xu hướng tiếp xúc vật lý nhiều hơn với bề mặt sàn và tường.
Để không gian học tập hoạt động trong hơn một vài phút, cần có đồ nội thất cho học sinh và giáo viên. Cùng với không khí trong phòng, đây là sự tương tác trực tiếp nhất của người sử dụng với không gian của họ. Cấu hình và công thái học cần được điều chỉnh theo các hoạt động trong không gian học tập để việc học tập hiệu quả nhất.
Trước đây, bàn ghế học sinh và ghế dài được xếp thành hàng hướng về phía trước lớp học, thường được cố định trên sàn nhà. Điều này hỗ trợ việc học thụ động và các phương pháp giảng dạy trực tiếp nhưng không hỗ trợ việc học tập tích cực và lấy học sinh làm trung tâm. Học tập tích cực, bao gồm cộng tác, hoạt động nhóm và học tập dựa trên dự án, yêu cầu học sinh di chuyển giữa đồ nội thất và không gian và yêu cầu các cấu hình đồ nội thất khác nhau, thường là trong cùng một buổi học. Khi giáo viên chuyển khỏi bục giảng để tương tác, tham vấn và hướng dẫn học sinh, họ cũng cần phải di chuyển. Nhận thức được tầm quan trọng của việc cá nhân hóa và phân biệt trong các hoạt động và môi trường học tập. Các nghiên cứu chỉ ra rằng con người, và đặc biệt là học sinh trẻ, cần phải di chuyển thường xuyên. Điều này cho thấy rằng nhiều loại hình thức, cấu hình và sự linh hoạt của đồ nội thất có thể góp phần vào hiệu quả của không gian học tập. Công nghệ cá nhân, thường cầm tay, cũng đòi hỏi các tư thế và vị trí khác nhau để mọi người ngồi, đứng hoặc thư giãn. Ghế có tay vịn máy tính bảng để ghi chép không hữu ích cho việc giữ máy tính xách tay và các thiết bị cầm tay thường được hỗ trợ trên đầu gối và đùi, không phải đồ nội thất.
Cho đến gần đây, công nghệ trong không gian học tập hầu như chỉ dành cho giảng viên sử dụng. Giờ đây, học sinh có quyền truy cập nhiều hơn vào công nghệ lớp học và công nghệ cá nhân trong lớp học. Với khả năng truy cập Internet, sách điện tử và nội dung kỹ thuật số khác, công nghệ đã vượt khỏi các loại bài thuyết trình đơn giản sang nghiên cứu, tạo, cộng tác và trình bày hoặc xuất bản thực tế. Các công nghệ chính trong không gian học tập hiện đại bao gồm: máy chiếu, bảng tương tác và máy chiếu, máy tính (máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng hoặc thiết bị di động), máy ảnh tài liệu, máy ảnh kỹ thuật số, hội nghị truyền hình, hệ thống phát lại âm thanh và video, tăng cường giọng nói, Wi-Fi, Truy cập Internet và các thiết bị khác.
Công nghệ di động và cá nhân đang biến đổi cách sử dụng và cấu hình không gian học tập. Nó cho phép học tập - bao gồm nghiên cứu, cộng tác, sáng tạo, viết lách, sản xuất và trình bày - có thể diễn ra ở hầu hết mọi nơi. Ví dụ, thiết bị di động cho phép giao tiếp với học sinh dễ dàng hơn. Các công cụ mạnh mẽ của nó hỗ trợ sự sáng tạo trong suy nghĩ - thông qua sự cộng tác, tạo ra và sản xuất không đòi hỏi sự khéo léo của bàn tay. Nó thúc đẩy việc cá nhân hóa không gian học tập của giáo viên và học sinh, điều này vừa hỗ trợ trực tiếp hoạt động học tập vừa hỗ trợ gián tiếp thông qua việc tạo ra cảm giác sở hữu và liên quan cao hơn.
Kiến trúc bền vững (hay 'xanh') là thiết kế nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường của các tòa nhà thông qua việc sử dụng hiệu quả và tiết độ vật liệu, năng lượng và không gian phát triển. Nó sử dụng một cách tiếp cận có ý thức về bảo tồn năng lượng và sinh thái trong thiết kế môi trường xây dựng. Mục đích của thiết kế bền vững (hay sinh thái) là đảm bảo rằng các hành động và quyết định hiện tại không ức chế cơ hội của các thế hệ tương lai. Các thuộc tính bền vững được công nhận về tầm quan trọng của chúng đối với hiệu quả của không gian học tập, từ góc độ thoải mái và sức khỏe của người sử dụng, quản lý quỹ công cộng và như một công cụ trình diễn để hỗ trợ các sáng kiến bền vững hoặc trở thành một phần của chương trình giảng dạy của trường. Có nhiều hệ thống xếp hạng khác nhau cho hiệu suất và việc kết hợp các tính năng bền vững trong các tòa nhà nói chung và trường học và các không gian học tập khác. Bao gồm các yêu cầu và hệ thống xếp hạng từ (LEED, BREEAM, Energy Star, Collaborative for High Performance Schools, The 2030 °Challenge, Living Building Challenge, các tiêu chuẩn cấp bang khác nhau cho trường học (ví dụ: Washington Sustainable Schools Protocol), có thể được bắt buộc, khuyến khích hoặc tự nguyện, tùy thuộc vào thẩm quyền.
Không gian học tập phải bền vững và tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục phát triển bền vững như các lớp học thông minh làm.
Các loại cơ sở giáo dục.
Không gian học tập được cung cấp trong nhiều loại hình tổ chức, tòa nhà, môi trường và mô hình tổ chức khác nhau.
Trường học một phòng.
Mô hình trường học một phòng, hay còn được gọi là "shrools", là phổ biến ở các vùng nông thôn của nhiều quốc gia ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Khối thịnh vượng chung trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, chủ yếu ở các vùng nông thôn (quốc gia) và thị trấn nhỏ. Thiết kế của trường rất đơn giản - tất cả học sinh đều học trong một phòng duy nhất với một giáo viên dạy các môn cơ bản cho nhiều lớp học của học sinh tiểu học. Mặc dù ở nhiều nơi, các trường học một phòng không còn được sử dụng, nhưng chúng vẫn thường được tìm thấy ở các nước đang phát triển và các vùng nông thôn hoặc xa xôi, bao gồm các vùng xa xôi của miền Tây nước Mỹ, quần đảo Falkland và quần đảo Shetland. Với công nghệ kỹ thuật số hiện đại cung cấp kết nối với các tài nguyên và cộng đồng xa xôi, mô hình này đang được xem xét lại như một hình thức khả thi.
Các trường học truyền thống.
Mô hình trường học này, cũng được gọi là "trường học kiểu nhà máy", được phát triển vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, là hình thức trường học phổ biến nhất ở nhiều nơi trên thế giới. Các lớp học và cơ sở vật chất được bố trí thành "dây chuyền lắp ráp", tương tự như phương pháp sư phạm chia sẻ phương pháp của nó. Tiêu chuẩn hóa và hiệu quả của không gian, thời gian và vật liệu là các thành phần chính của mô hình này. Bàn ghế của học sinh được sắp xếp thành hàng, thường được cố định tại chỗ, hướng về phía tường giảng dạy. Các lớp học cũng được sắp xếp thành hàng dọc theo hành lang đôi. Mô hình này cũng được gọi là mô hình "tế bào và chuông".
Sau Thế chiến thứ hai và sự xuất hiện của phong cách kiến trúc quốc tế, sản xuất hàng loạt, tối đa hóa hiệu quả của không gian và khối lượng, và vật liệu tiết kiệm chi phí đã thay thế cho trang trí và các cân nhắc thẩm mỹ trong thiết kế, vì vậy các trường học bắt đầu trông giống như nhà máy khi chúng được cấu hình và vận hành.
Trường học mở và lớp học mở ở Châu Âu và Bắc Mỹ được phát triển vào thập niên 1960 từ phong trào giáo dục tiến bộ. Song song với một nền sư phạm lấy học sinh làm trung tâm, các cơ sở không có tường nội thất này được xây dựng để thúc đẩy việc dạy học theo nhóm, học sinh di chuyển giữa các "khu vực học tập" và tiết kiệm chi phí xây dựng và vận hành các cơ sở. Thiếu sự phân tách âm thanh và tuyên bố về sự phân tâm thị giác đã khiến nhiều trường học này trở nên không phổ biến. Nhiều trường được xây dựng trong cuộc khủng hoảng năng lượng vào đầu những năm 1970 và cùng với việc tập trung vào bên trong, cửa sổ đã bị giảm hoặc loại bỏ khỏi các khu vực học tập. Thiết kế này cũng dẫn đến chất lượng không khí trong nhà kém và mức độ ánh sáng tự nhiên thấp, mà các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra là rất quan trọng đối với một không gian học tập hiệu quả.
Trường học tư vấn.
Trong mô hình này, giáo viên các môn học chính có vai trò kép là cố vấn và giáo viên trong lĩnh vực chuyên môn của họ. Thay vì các lớp học chung, các trường được thiết kế với các không gian tư vấn, là những khu vực mở có các bàn làm việc linh hoạt, khu vực hội nghị và cộng tác. Ngoài ra còn có các khu vực cho các môn học yêu cầu thiết bị đặc biệt, chẳng hạn như mỹ thuật và âm nhạc. Học sinh tự học với tốc độ của riêng mình cho đến khi đạt được sự thành thạo trong học tập, loại bỏ chuông trường, học kỳ và năm học. Mô hình tư vấn khuyến khích xây dựng mối quan hệ ngang hàng giữa học sinh ở các độ tuổi và hoàn cảnh khác nhau, điều này làm giảm các hành vi tiêu cực trên mạng xã hội như bắt nạt và sự phát triển của các nhóm bạn bè khép kín.
Cộng đồng học tập nhỏ.
Mô hình cộng đồng học tập nhỏ (SLC) được cấu trúc để cung cấp một môi trường học tập được cá nhân hóa hơn, bao gồm sự hợp tác giữa giáo viên và giữa học sinh, các nghiên cứu liên ngành và học tập dựa trên dự án, mặc dù các trường không cần cung cấp bất kỳ hoặc tất cả các khía cạnh này trong mô hình chương trình giảng của họ. SLC về cơ bản là các cụm hoặc nhóm không gian học tập riêng biệt, thường có một khu vực chung hoặc linh hoạt trung tâm, với nhiều phòng học và phòng họp nhóm mở ra, bao gồm một số lớp học hoặc phòng học tập và một phòng thí nghiệm khoa học. Các SLC theo chủ đề hoặc tập trung vào nghề nghiệp cụ thể cũng có thể kết hợp các phòng thí nghiệm đặc biệt, không gian sáng tạo hoặc cửa hàng dạy nghề. Một trường học sẽ có nhiều SLC, thường có từ 100 đến 200 học sinh, có thể được vận hành theo mô hình khoa, học viện hoặc trường nhỏ.
Các trường học ngoài trời.
Mô hình này, còn được gọi là trường học kiểu California ở một số khu vực, là tập hợp các tòa nhà cùng nhau tạo thành một trường học hoặc cơ sở học tập nhưng không được kết nối bằng các hành lang trong nhà, kín. Tất cả sự lưu thông giữa các không gian chính đều ở ngoài trời. Điều này tương tự như một khuôn viên trường đại học, nhưng với các tòa nhà không có các tuyến đường lưu thông trong nhà chính như có thể tìm thấy trong một tòa nhà khoa. Một số trường học được cung cấp các lối đi bên ngoài có mái che (hoặc lối đi thoáng mát) giữa các tòa nhà hoặc dọc theo các cạnh để cung cấp nơi trú ẩn khi di chuyển giữa các phòng. Thiết kế này đã bị chỉ trích do không phù hợp với một số điều kiện khí hậu và lo ngại về an toàn và bảo mật khi buộc học sinh phải ra ngoài trời vào những khu vực không có rào chắn và không an toàn..
Lớp học di động.
Mô hình này bao gồm các tòa nhà mô-đun, còn được gọi một cách thông tục trên khắp thế giới là các tòa nhà di động, nhà cấp 4, lán t, rơ-moóc, terrapins, lều, di động, tòa nhà t hoặc các tòa nhà có thể di dời. Chúng được chế tạo trước trong nhà máy và được giao thành hai hoặc nhiều phần đến một cơ sở giáo dục. Tại đó, chúng được lắp ráp thành một hoặc hai tòa nhà có kích thước bằng phòng học, thường không có nền móng cố định để có thể di chuyển. Mục đích thông thường của chúng là cung cấp không gian lớp học tạm thời cho các trường học cần thêm không gian giảng dạy, có thể là phòng học tiêu chuẩn hoặc cho các chương trình nghệ thuật, khoa học hoặc các chương trình chuyên biệt khác. Ước tính có khoảng 350.000 phòng học di động đang được sử dụng ở Hoa Kỳ. Chúng được coi là một cách hiệu quả về chi phí, nhanh chóng và tạm thời để giải quyết các vấn đề về năng lực của trường học. Tuy nhiên, chúng thường vẫn được sử dụng lâu sau thời hạn sử dụng hữu ích của chúng, không tiết kiệm năng lượng hoặc bền như các tòa nhà cố định, và đã được liên kết với các mối quan tâm về sức khỏe ở học sinh do chất lượng môi trường trong nhà kém. Các lớp học di động thường được lắp đặt tách biệt với các tòa nhà trường học cố định, có thể độc lập, nối lưng nhau thành từng cặp (để chia sẻ tiện nghi nhà vệ sinh) hoặc theo cụm. Vì vậy, chúng có thể tạo thành một khuôn viên riêng biệt cho chính chúng hoặc vì chúng thường được coi là giải pháp tạm thời cho một vấn đề, nên chúng không được quy hoạch thỏa đáng về mặt không gian, vị trí hoặc dịch vụ. Chúng cũng không được thiết kế để cung cấp một không gian học tập tối ưu phù hợp với địa điểm, cả về khả năng tiếp cận, hướng ánh sáng tự nhiên hoặc tích hợp với các không gian học tập khác trong trường học.
Lớp học ngoài trời.
Mô hình này mô tả các không gian diễn ra giáo dục ngoài trời. Những không gian này có thể được cấu trúc hoặc hoàn toàn tự nhiên và hữu cơ. Mô hình cũng có thể bao gồm bất kỳ hoạt động và không gian nào khác ngoài cơ sở giáo dục hoặc lớp học. Nó có thể bao gồm nhiều môn học khác nhau, bao gồm các chuyến đi thực địa về sinh học và tìm kiếm côn trùng, cũng như các hoạt động trong nhà như quan sát kiểm soát hàng tồn kho tại một cửa hàng bán lẻ địa phương hoặc tham quan bảo tàng. Mô hình này thường hỗ trợ việc học tập dựa trên hoạt động và tìm hiểu và học tập trải nghiệm, với trọng tâm là "làm". Các ví dụ về học tập ngoài trời là học tập dựa trên vườn, trường mẫu giáo rừng và trường rừng.
Lớp học trực tuyến.
Mô hình VLE (Môi trường học tập ảo) là một môi trường hoặc nền tảng học tập trực tuyến, thường được sử dụng trong các tổ chức giáo dục. VLE thường có các đặc điểm sau:
VLE đã được áp dụng bởi hầu hết các tổ chức giáo dục đại học trong thế giới nói tiếng Anh. Một trường học ảo là một tổ chức giáo dục trực tuyến có thể có hoặc không có cơ sở vật chất "truyền thống" mở cửa cho học sinh. Môi trường vật lý cần thiết để hỗ trợ việc này về cơ bản là bất cứ thứ gì hỗ trợ một người sử dụng các thiết bị kết nối - máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng hoặc thiết bị cầm tay. Các yêu cầu chính bao gồm đồ nội thất hoặc trạm làm việc tiện dụng phù hợp, nguồn điện, kết nối (Wi-Fi), điều khiển ánh sáng và cách âm để giảm thiểu tối đa sự phân tâm không mong muốn. Ngày càng có nhiều trường hợp, đây có thể là gần như bất kỳ môi trường nào có quyền truy cập vào điện thoại không dây, internet hoặc mạng thông tin liên lạc.
Lớp học ngược là một mô hình học tập kết hợp giữa không gian học tập truyền thống "truyền thống" và không gian giảng dạy ảo. Loại hình học tập kết hợp này đảo ngược cách sắp xếp giáo dục truyền thống bằng cách cung cấp nội dung giảng dạy, thường là trực tuyến, bên ngoài lớp học và các hoạt động theo kiểu bài tập về nhà truyền thống được chuyển vào lớp học. Do đó, cách tiếp cận này dựa trên việc biến đổi các địa điểm ngoài giờ học của học sinh (ở nhà hoặc nơi khác) thành không gian học tập. Điều này tương tự như phương pháp giáo dục được sử dụng ở các cấp lớp cao hơn và các tổ chức giáo dục đại học, nơi mà nhiều nội dung hơn được tìm kiếm bên ngoài lớp học và thảo luận, học tập dựa trên tìm tòi và các dự án thực hành được thực hiện tại cơ sở giáo dục. Ngoài giờ giảng, môi trường kỹ thuật số trở nên quan trọng như môi trường vật lý, cả hai đều nằm ngoài tầm kiểm soát của giáo viên và ngày càng được kiểm soát bởi học sinh.
Các loại theo phương pháp học tập.
Không gian học tập thường được thiết kế hoặc sử dụng cho một hoặc cả hai loại hình học tập chính là thụ động và chủ động.
Học thụ động/dạy trực tiếp.
Học tập thụ động và giảng dạy trực tiếp là hai phương pháp sư phạm lấy giáo viên làm trung tâm, được đặc trưng là "người hiền trên sân khấu". Đây là những hình thức giảng dạy phổ biến nhất trong các không gian học tập lịch sử và hiện tại, được đặc trưng bởi mô hình lớp học tiêu chuẩn: không gian cho 15 đến 40 học sinh và một giáo viên; một trạm giảng dạy cố định hoặc tường giảng dạy với bề mặt viết hoặc hiển thị bao gồm một hoặc nhiều bảng đen hoặc bảng trắng; và học sinh ngồi tại bàn, bàn học hoặc ghế dài, theo truyền thống được sắp xếp thành các hàng quay mặt vào tường giảng dạy; một bức tường có cửa sổ; một bức tường bên trong giáp với hành lang hoặc lối đi bên ngoài, có cửa, và thường không có kính để giảm thiểu sự phân tâm của học sinh; bề mặt tường có thể có thêm bề mặt hiển thị hoặc viết cho các bài học hoặc tài liệu hướng dẫn; một quầy với bồn rửa cho các lớp học ở cấp thấp hơn có thể tham gia các lớp nghệ thuật trong căn phòng này; và ở các lớp thấp hơn, tủ hoặc ngăn tủ cho áo khoác và sách của học sinh. Theo truyền thống, đồ đạc trong các lớp học ở trường sẽ được cố định, như thường thấy và vẫn tiếp tục có ở các giảng đường với chỗ ngồi kiểu rạp hát bậc thang, dốc hoặc nhiều tầng. Trong các không gian tôn giáo như nhà thờ, trạm giảng dạy nằm ở hoặc gần bàn thờ hoặc bục giảng với người học ngồi thành các hàng ghế hoặc băng ghế hướng mặt về phía người nói. Định dạng một chiều được quy định này hướng mặt vào người hướng dẫn hỗ trợ giảng dạy trực tiếp bằng cách cho người hướng dẫn và người học đối mặt trực tiếp; cơ hội tương tác giữa các học sinh bị hạn chế.
Học tập chủ động/trải nghiệm.
Học tập tích cực, học tập trải nghiệm, giáo dục tiến bộ và học tập cá nhân hóa là các phương pháp sư phạm lấy học sinh làm trung tâm.
Một không gian học tập tập trung vào việc sử dụng và phát triển các kỹ năng và năng lực của thế kỷ 21 sẽ hỗ trợ việc học tập và thực hành các môn học cốt lõi (3R), nội dung thế kỷ 21, cộng tác, giao tiếp, sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng số (ICT) , kỹ năng sống, đánh giá thế kỷ 21 và hỗ trợ công nghệ học tập từ xa, được ghi lại và phân biệt. Những môi trường này thường được tìm thấy ở các cơ sở giáo dục đại học nhưng hiện đang thay thế hoặc bổ sung cho các không gian và cấu hình truyền thống ở các trường K-12. Các không gian học tập dựa trên kỹ năng thế kỷ 21 cũng có nhu cầu vật chất tương tự như các môi trường giáo dục tiên tiến.
Không gian học tập thế kỷ 21 hỗ trợ việc học tập đa ngành, giảng dạy theo nhóm, tương tác, không bị hạn chế bởi các ràng buộc thông thường dựa trên thời gian học, trong một môi trường hỗ trợ tương tác xã hội và thúc đẩy sự tham gia của học sinh và giáo viên. Một loạt các không gian phân biệt, liên quan, linh hoạt vừa chức năng vừa hấp dẫn; tính thẩm mỹ rất quan trọng để khuyến khích sự tham dự và gắn kết. Mở rộng cách tiếp cận này ra ngoài bất kỳ căn phòng nào và vào toàn bộ cơ sở, khuôn viên trường và xa hơn, gần như bất kỳ nơi nào cũng có thể là một không gian học tập hiệu quả..
Nhu cầu cụ thể:
Các môi trường học tập trực tuyến, theo định nghĩa, tồn tại trong không gian kỹ thuật số (hoặc không gian mạng). Để truy cập chúng, học sinh cần cả công nghệ và môi trường vật lý hỗ trợ khả năng kết nối đó. Internet và công nghệ truyền thông kỹ thuật số cho phép học sinh truy cập thông tin và kiến thức, các công cụ, giảng viên, người cố vấn, bạn học và cộng tác viên, và tài liệu giáo dục thực tế hoặc dự án họ đang thực hiện từ các khu vực vượt xa cơ sở giáo dục. Với các thiết bị di động cao, những địa điểm này có thể ở bất cứ đâu có truy cập internet hoặc mạng truyền thông, trên hành tinh hoặc ngoài không gian. Để hiệu quả, môi trường vật lý mà học sinh truy cập môi trường ảo cần có một số thành phần chính: |
Luận văn (viết tắt "diss."), là một tài liệu được nộp để ủng hộ việc ứng cử cho một bằng cấp học thuật hoặc trình độ chuyên môn trình bày nghiên cứu và phát hiện của tác giả.
Trong một số ngữ cảnh, từ luận văn hoặc một từ tương tự được sử dụng cho một phần của khóa học cử nhân hoặc thạc sĩ, trong khi tiểu luận thường được áp dụng cho một bằng tiến sĩ. Đây là sự sắp xếp thông thường trong tiếng Anh Mỹ. Trong các ngữ cảnh khác, chẳng hạn như trong hầu hết các tổ chức của Vương quốc Anh và Cộng hòa Ireland, điều ngược lại là đúng. Thuật ngữ luận văn sau đại học đôi khi được sử dụng để chỉ cả luận văn thạc sĩ và tiểu luận tiến sĩ.
Độ phức tạp hoặc chất lượng nghiên cứu được yêu cầu của một luận văn hoặc tiểu luận có thể khác nhau tùy theo quốc gia, trường đại học hoặc chương trình, và do đó thời gian học tập tối thiểu được yêu cầu có thể khác nhau đáng kể về thời lượng.
Từ tiểu luận đôi khi được sử dụng để mô tả một luận thuyết không liên quan đến việc lấy bằng cấp học thuật. Thuật ngữ luận văn cũng được sử dụng để chỉ tuyên bố chung của một bài luận hoặc tác phẩm tương tự.
Thuật ngữ "luận văn" bắt nguồn từ từ tiếng Hy Lạp θέσις, nghĩa là "điều gì được đưa ra", và đề cập đến một đề xuất trí tuệ. Thuật ngữ "tiểu luận" bắt nguồn từ tiếng Latin dissertātiō, nghĩa là "thảo luận". Aristotle là nhà triết học đầu tiên định nghĩa thuật ngữ "luận văn". Một luận văn là một giả định của một triết gia uyên bác nào đó mâu thuẫn với ý kiến , một luận văn sẽ là một giả định mâu thuẫn với ý kiến chung hoặc thể hiện sự bất đồng ý kiến với các triết gia khác (104b33-35). Một giả định là một tuyên bố hoặc ý kiến có thể đúng hoặc sai tùy thuộc vào bằng chứng và/hoặc chứng minh được đưa ra (152b32). Do đó, mục đích của luận án là phác thảo các bằng chứng về lý do tại sao tác giả bất đồng ý kiến với các triết gia khác hoặc ý kiến chung.
Luận văn (hoặc tiểu luận) có thể được sắp xếp dưới dạng luận văn do xuất bản hoặc luận văn chuyên khảo, có hoặc không có các bài báo đính kèm. Nhiều chương trình sau đại học cho phép ứng viên nộp một bộ sưu tập các bài báo được tuyển chọn. Một luận văn chuyên khảo thông thường có trang tiêu đề, tóm tắt, mục lục, bao gồm các chương khác nhau như phần giới thiệu, tổng quan tài liệu, phương pháp luận, kết quả, thảo luận và danh sách tham khảo hoặc thường là phần tham khảo. Chúng khác nhau về cấu trúc của chúng phù hợp với nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau (nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, công nghệ, khoa học, ) và sự khác biệt giữa chúng. Trong một luận văn do xuất bản, các chương cấu thành một bài đánh giá tổng quan và giới thiệu về các tài liệu bài báo đã được xuất bản và chưa được xuất bản được đính kèm.
Tiểu luận thường báo cáo về một dự án nghiên cứu hoặc nghiên cứu, hoặc một phân tích mở rộng về một chủ đề. Cấu trúc của một luận văn hoặc tiểu luận giải thích mục đích, tài liệu nghiên cứu trước đây liên quan đến chủ đề nghiên cứu, các phương pháp được sử dụng và phát hiện của dự án. Hầu hết các trường đại học trên thế giới sử dụng định dạng nhiều chương: |
Franz, Công tước xứ Teck
Franz xứ Teck, GCB, GCVO ("Franz Paul Karl Ludwig Alexander"; 28 tháng 8 năm 1837 – 21 tháng 1 năm 1900), được gọi là Bá tước Franz von Hohenstein cho đến năm 1863, là một nhà quý tộc gốc Áo kết hôn với Vương thất Anh. Vợ ông, Vương tôn nữ Mary Adelaide của Cambridge, là em họ đời đầu của Nữ vương Victoria, vì cha của bà là chú ruột của Nữ vương. Francis là cha của Vương hậu Mary, vợ của Vua George V. Francis giữ tước hiệu Bá tước xứ Hohenstein ("Graf von Hohenstein") của Đế quốc Áo, và tước hiệu Thân vương ("Fürst") của Đế quốc Đức và sau đó là Công tước xứ Teck ("Herzog von Teck"), và được nhận phong cách "Serene Highness" vào năm 1863. Ông được Hoàng gia Anh trao kính xưng "Highness" vào năm 1887.
Francis là sản phẩm của một cuộc hôn nhân quý tiện kết hôn, cha ông là Công tước Alexander của Württemberg, người nằm trong dòng kế vị ngai vàng Vương quốc Württemberg, trong khi đó mẹ ông được sinh ra trong một gia đình quý tộc ở Transylvania, Hungary sở hữu trước vị Bá tước. Tuy nhiên 2 tước vị không tương đồng nhau, nên Francis bị loại ra khỏi danh sách kế vị ngai vàng của Württemberg và ban đầu cũng không được hưởng các tước vị hoàng gia cho đến năm 1863 mới được nhận Thân vương xứ Teck, một tước hiệu nằm trong Vương quốc Württemberg
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. |
Khủng hoảng Niger 2023
Vào ngày 26 tháng 7 năm 2023, một cuộc đảo chính đã xảy ra ở Niger, trong đó lực lượng bảo vệ tổng thống của nước này đã cách chức và giam giữ Tổng thống Mohamed Bazoum. Sau đó, tướng Abdourahamane Tchiani, Tư lệnh Lực lượng Vệ binh Tổng thống, tuyên bố mình là người lãnh đạo chính quyền quân sự, thành lập Hội đồng Quốc gia Bảo vệ Tổ quốc, sau khi xác nhận sự thành công của cuộc đảo chính.
Để đối phó với diễn biến này, Cộng đồng Kinh tế của các Quốc gia Tây Phi (ECOWAS) đã đưa ra tối hậu thư vào ngày 30 tháng 7, cho các thủ lĩnh cuộc đảo chính ở Niger một tuần để khôi phục Bazoum, kèm theo lời đe dọa trừng phạt quốc tế và khả năng sử dụng vũ lực. Khi thời hạn của tối hậu thư hết hạn vào ngày 6 tháng 8, không có sự can thiệp quân sự nào được thực hiện; tuy nhiên, vào ngày 10 tháng 8, ECOWAS đã thực hiện bước kích hoạt lực lượng dự bị của mình. ECOWAS trước đây đã can thiệp vào Gambia để khôi phục nền dân chủ sau cuộc khủng hoảng hiến pháp 2016–2017 của đất nước này. |
Bóng gậy tại Đại hội Thể thao châu Á 2022
Bóng gậy là một trong 37 môn thể thao thi đấu tại Đại hội Thể thao châu Á 2022 được tổ chức tại Hàng Châu, Trung Quốc. Giải đấu dành cho cả nam và nữ cũng sẽ được tổ chức. Trước giải đấu này, bộ môn cricket được tổ chức thi đấu lần cuối tại Đại hội Thể thao châu Á vào năm 2014. Đại hội Thể thao châu Á ban đầu dự kiến diễn ra vào tháng 9 năm 2022, nhưng sau đó đã bị hoãn lại một năm do đại dịch COVID-19. Mười bốn đội nam và chín đội nữ tham gia. Các đội được xếp hạt giống dựa trên bảng Xếp hạng ICC T20I tính đến ngày 1 tháng 6 năm 2023. |
Phương pháp lưới Boltzmann
Phương pháp lưới Boltzmann (LBM) bắt nguồn từ phương pháp lưới khí tự động (LGA) (theo mô hình Hardy-Pomeau-Pazzis and Frisch-Hasslacher-Pomeau), là một lớp phương pháp tính toán khí động lực học (CFD) để mô phỏng chất lưu. Thay vì giải những phương trình Navier-Stokes một cách trực tiếp, thì mật độ của chất lưu trên lưới được mô phỏng bằng các quá trình dịch chuyển và va chạm (nghỉ ngơi). Phương pháp này rất linh hoạt vì một mô hình chất lưu được tạo ra để mô phỏng hành vi thông thường của chất lưu đó giống như sự tồn tại của hơi/chất lỏng, do đó hệ chất lưu giống như giọt nước rơi có thể được mô phỏng. Ngoài ra, chất lưu trong môi trường phức tạp như môi trường xốp có thể được mô phỏng trực tiếp, trong khi với các điều kiện biên phức tạp, các phương pháp CFD khác khó có thể thực hiện được.
Không giống như các phương pháp CFD thông thường là đi giải số các phương trình bảo toàn cho các biến vĩ mô (như khối lượng, động lượng, và năng lượng), phương pháp lưới Boltzmann mô hình hóa chất lưu bao gồm các hạt giả tưởng và các hạt như vậy thực hiện các quá trình lan truyền và va chạm liên tiếp trên một lưới rời rạc. Do tính chất hạt và động lực học cục bộ, LBM có một số ưu điểm so với các phương pháp CFD thông thường khác, đặc biệt là trong việc xử lý điều kiện biên phức tạp, tương tác vi mô kết hợp và thuật toán song song. Một cách diễn giải khác của phương trình lưới Boltzmann là phương trình Boltzmann vận tốc rời rạc. Khi đó, các phương pháp số giải hệ các phương trình vi phân từng phần tạo ra một bản đồ rời rạc, nó có thể được hiểu như là các quá trình lan truyền và va chạm của các hạt giả. Trong thuật toán này, nó là các bước va chạm và dịch chuyển. Chúng làm tăng mật độ của chất lưu formula_1, trong đó formula_2 là vector chỉ vị trí còn formula_3 là thời gian. Giống như chất lưu trên một lưới, mật độ có các thành phần formula_4 bằng số vector lưới kết nối với mỗi điểm lưới. Ví dụ, vector lưới của một lưới đơn giản được sử dụng trong không gian hai chiều được mô tả như sau. Lưới này thường được ký hiệu là D2Q9, cho hai chiều và chín vectơ: bốn vectơ dọc theo hướng bắc, đông, nam và tây, cộng với bốn vectơ đến các góc của một hình vuông đơn vị, cộng với một vectơ có cả hai thành phần bằng 0. Sau đó, ví dụ như vector formula_5, nó hướng về phía nam và do đó nó không có thành phần formula_6 nhưng có thành phần formula_7 là formula_8. Vì vậy, một trong chín thành phần của mật độ tổng tại điểm lưới trung tâm formula_9, là phần chất lưu tại điểm formula_2 di chuyển về phía nam, với vận tốc trên đơn vị lưới bằng một.
Khi đó các bước biến đổi của chất lưu theo thời gian như sau:
là mô hình Bhatnagar Gross và Krook (BGK) cho trạng thái nghỉ-relaxation đến trạng thái cân bằng thông qua va chạm của các phân tử chất lưu. formula_12 là mật độ ở trạng thái cân bằng dọc theo hướng "i" của mật độ hiện thời tại đó. Mô hình giả định rằng chất lưu nghỉ cục bộ đến trạng thái cân bằng trong khoảng thời gian đặc trưng formula_13. Khoảng thời gian này xác định độ nhớt động học, nó càng lớn thì độ nhớt động học càng lớn.
Theo định nghĩa, formula_15 là mật độ chất lưu tại điểm formula_2 vào thời gian formula_3, đang chuyển động với vận tốc formula_18 trên một bước thời gian, sau đó tại thời gian tiếp theo formula_19 nó sẽ di chuyển đến formula_20.
Mặc dù LBM ngày càng được phổ biến trong việc mô phỏng hệ chất lưu phức tạp, nhưng phương pháp mới này vẫn có một số nhược điểm. Hiện tại, dòng chảy với số Mach cao vẫn còn khó đối với LBM, và không có một sơ đồ nhiệt-thủy động lực học nhất quán. Tuy nhiên, giống như các phương pháp CFD thông thường khác, phương pháp LBM được kết hợp rất thành công các giải pháp đặc trưng về nhiệt để có khả năng mô phỏng quá trình truyền nhiệt (dẫn nhiệt, đối lưu, bức xạ nhiệt trên chất rắn). Đối với các mô hình nhiều pha/đa thành phần, độ dày giao diện thường lớn và tỷ lệ mật độ trên giao diện nhỏ khi so sánh với chất lưu thực. Gần đây, vấn đề này đã được giải quyết bởi Yuan và , những người đã cải tiến mô hình của Shan và Chen, Swift, và He, Chen và Zhang. Họ có thể đạt được tỷ lệ mật độ 1000:1 chỉ bằng cách thay đổi phương trình trạng thái. Người ta đã đề xuất áp dụng phép biến đổi Galileo để khắc phục hạn chế của việc mô hình hóa dòng chất lỏng tốc độ cao. Tuy nhiên, những ứng dụng rộng rãi và những tiến bộ nhanh chóng của phương pháp này trong suốt hai mươi năm qua đã chứng minh tiềm năng của nó trong vật lý tính toán, bao gồm cả dòng vi lỏng, phương pháp LBM chứng tỏ những kết quả đầy hứa hẹn trong lĩnh vực dòng chảy số có cao.
Trong suốt những năm gần đây, phương pháp LBM đã được chứng minh là một công cụ mạnh mẽ để giải quyết các vấn đề ở các quy mô và thời gian khác nhau. Một số ứng dụng của LBM bao gồm: |
Huân chương Pushkin (tiếng Nga: медаль Пушкина; tiếng Anh: "Medal of Pushkin") là huân chương nhà nước của Liên bang Nga được trao cho công dân của mình và người nước ngoài vì những thành tựu trong nghệ thuật và văn hóa, giáo dục, nhân văn và văn học. Nó được đặt tên để vinh danh tác giả và nhà thơ người Nga Aleksandr Sergeyevich Pushkin.
Huân chương Pushkin được thành lập vào ngày 9 tháng 5 năm 1999 theo Nghị định của Tổng thống số 574, quy chế của nó đã được sửa đổi vào ngày 7 tháng 9 năm 2010 theo Nghị định của Tổng thống số 1099 đã cải tiến hoàn toàn hệ thống giải thưởng và danh dự của Liên bang Nga.
Quy chế giải thưởng.
Huân chương Pushkin được trao cho công dân Liên bang Nga có ít nhất 20 năm hoạt động nhân đạo - xã hội vì có thành tích trong nghệ thuật và văn hóa, giáo dục, nhân văn và văn học, vì những đóng góp to lớn cho việc nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa Nga, trong việc xích lại gần nhau và làm phong phú các nền văn hóa của các quốc gia và dân tộc, nhằm tạo ra những hình ảnh có tính nghệ thuật cao.
Thứ tự ưu tiên của Liên bang Nga quy định huy chương phải được đeo ở ngực trái cùng với các huy chương khác ngay sau Huân chương Nesterov.
Mô tả giải thưởng.
Huân chương Pushkin là một huy chương làm bằng bạc hình tròn có đường kính 32mm với vành nổi ở cả mặt trước và mặt sau. Mặt trước có hình tự họa (vẽ đường nét) nhìn nghiêng bên trái của Pushkin. Ở giữa mặt sau có chữ ký nổi ngang của chính Pushkin. Chữ ký chiếm phần lớn tổng chiều rộng của huân chương. Dưới chữ ký gần mép dưới của huy chương là chữ "N" nổi và một dòng dành riêng cho số sê-ri giải thưởng.
Huy chương được treo trên một giá treo hình ngũ giác tiêu chuẩn của Nga bằng một chiếc vòng xuyên qua vòng treo huy chương. Giá đỡ được bao phủ bởi một dải ruy băng họa tiết moiré lụa xanh rộng 24mm chồng lên nhau với một sọc vàng 2,5 mm nằm cách mép phải của dải băng 5 mm. |
Ma thuật sư (魔術師 tiếng Anh: magician) hay pháp sư (法師 mage) là danh từ chỉ chung cho những người học tập, rèn luyện và sử dụng ma thuật (magic) có nguồn gốc từ các nguồn siêu nhiên, huyền bí hoặc ma mị, bí ẩ(魔導師 wizard), ma pháp sư (魔法師 sorcerer), phù thuật sư (符術師 enchanter), thuật sĩ (術士) hay phù thuỷ (witch), tôn giáo hoặc thế giới quan của tác phẩm giả tưởng.
Ma thuật sư có lịch sử phong phú về thần thoại, truyền thuyết, tiểu thuyết và văn hóa dân gian và là những nhân vật phổ biến trong các tác phẩm giả tưởng, chẳng hạn như văn học giả tưởng và trò chơi nhập vai.
Nguyên mẫu nhân vật.
Trong tiếng Anh, ma thuật sư được gọi bằng nhiều tên trong các tác phẩm giả tưởng và thuật ngữ rất khác nhau giữa các thế giới giả tưởng. Magician, mage, wizard, sorcerer, (魔術) là từ Hán-Việt có nghĩa là những phép lạ, điều huyền bí, vậy ma thuật sư chính là những người thực hiện các phép lạ đó. Ngoài ma thuật, khái niệm yêu thuật (妖術) và ma pháp (魔法) cũng được sử dụng với nghĩa tương đương, tuy nhiên "yêu thuật" có thiên hướng về truyền thống phương đông còn "ma pháp" lại thiên hướng phương tây hơn. Trong một số tác phẩm giả tưởng thì cả ba khái niệm ma thuật, yêu thuật và ma pháp đều tồn tại, khi đó yêu thuật là một dạng ma thuật của các chủng tộc yêu tinh, còn ma pháp lại là một khái niệm vượt xa ma thuật.
Ma thuật sư (magician) và pháp sư (mage) chỉ chung cho những người sử dụng ma thuật, những người thực hiện ma thuật để tìm kiếm kiến thức và nghiên cứu ma thuật thông qua các phương tiện siêu nhiên như sách vở, các sinh vật ma thuật, các cộng cụ ma thuậ
Ma đạo sư (wizard) đi sâu vào việc nghiên cứu ma thuật như một môn học, như một niềm đam mê tìm kiếm sự thông tuệ tri thức đất trời, về qui luật vận hành của ma thuật, từ ma đạo sư có nghĩa là "người thầy dẫn đường đến ma thuật". Trong các tác phẩm giả tưởng, ma đạo sư thường là các giáo sư dạy môn ma thuật học trong các học viện ma thuật, hình ảnh của họ thường được miêu tả là những ông bà lão râu tóc bạc phơ, gắn liền với các quyển ma đạo thư hoặc quyền trượng ma thuật.
Ma pháp sư (sorcerer) là những người có trình độ ma thuật cao cường có thể thay đổi cả thực tế, họ thường là những bậc thầy ma thuật hiếm và mạnh nhất. Không giống ma thuật sư và ma đạo sư phải thực hiện ma thuật thông qua học tập và nghiên cứu, thì các ma pháp sư dường như đã có sẵn sức mạnh ma thuật to lớn bên trong dòng máu của mình, cũng như tiếp nhận và thực hiện ma thuật một cách tự nhiên. Các ma pháp sư đã đạt đến khả năng thâm nhập vào nguồn ma lực tự nhiên, thuần khiết nhất, họ cũng được cho là có khả năng triệu hồi những sinh vật hoặc tinh linh tự nhiên.
Phù thủy (witch) chỉ những phụ nữ luyện tập thuật phù thủy (witchcarft) nhằm đạt được quyền năng thấu thị những tri thức huyền bí như khả năng tác động, điều khiển tâm trí, cơ thể của người khác, khả năng chữa thương, khả năng gọi hồn người chế(phù thủy thuần chủng).
Phù thuật sư (enchanter) thường không có khả năng hấp thụ ma lực như các ma thuật sư khác, họ điều khiển tâm trí con người bằng cách sử dụng phù chú, chủ yếu để mê hoặc, quyến rũ, dụ dỗ ai đó.
Triệu hồi sư (summoner) chỉ những người triệu hồi sinh vật ma thuật ở thế giới khác đề chiến đấu cùng bản thân.
Chiêu hồn sư (necromancer) chỉ những người gọi hồn người chết để nói chuyện hoặc điều khiển chúng làm việc cho mình.
Trong trò chơi nhập vai.
Các ma thuật sư trong game nhập vai thường sử dụng những cái tên mượn từ tiểu thuyết, thần thoại, truyền thuyết. Họ thường được mô tả và đặt tên để người chơi và người quản lý trò chơi có thể biết quy tắc nào được áp dụng. Gary Gygax và Dave Arneson đã giới thiệu Thuật sĩ (magic-user) trong "Dungeons Dragons" ban đầu như một thuật ngữ chung để chỉ người thực hành phép thuật (để tránh chỉ đích danh đến Ma thuật sư hay Ma đạo sư, Ma pháp sư; điều này kéo dài đến phiên bản thứ hai của "Advanced Dungeons Dragons", nơi nó được thay thế bằng Thuật sĩ (sau này trở thành Ma pháp sư). Các quy tắc chính xác khác nhau tùy theo từng trò chơi. Ma pháp sư hoặc Thuật sĩ, với tư cách là một lớp nhân vật, được phân biệt bởi khả năng sử dụng một số loại ma thuật nhưng yếu trong chiến đấu; các lớp phụ được phân biệt bởi điểm mạnh trong một số lĩnh vực ma thuật và điểm yếu ở những lĩnh vực khác.
Do hình ảnh truyền thống của họ là một ông già hoặc một bà già thông thái, các ma thuật sư có thể được miêu tả là già, tóc trắng và trong một số trường hợp có mái tóc, có râu đủ dài và uy nghiêm. để thỉnh thoảng lưu trữ những sinh vật rừng ẩn nấp. Mô tả này có trước thể loại giả tưởng hiện đại, bắt nguồn từ hình ảnh truyền thống của các ma thuật sư như Merlin.
Trong giả tưởng, một ma thuật sư có thể đội một chiếc mũ nhọn, áo choàng. Trong những câu chuyện hiện đại hơn, ma thuật sư có thể ăn mặc tương tự như ảo thuật gia trên sân khấu, đội mũ chóp và đeo đuôi, với áo choàng tùy chọn .
Một số chiếc mũ vàng có trang trí các chuỗi thiên văn đã được tìm thấy ở châu Âu. Các nhà khảo cổ và sử học suy đoán rằng chúng được các ma thuật sư cổ đại đeo. Những điểm tương đồng với hình dạng chiếc mũ của một ma thuật sư tưởng tượng có thể có nghĩa là nó cuối cùng cũng bắt nguồn từ họ.
Terry Pratchett mô tả áo choàng như một cách của ma thuật sư để chứng minh cho những người họ gặp rằng họ có khả năng thực hành ma thuật.
Trong bối cảnh chiến dịch Dragonlance của trò chơi nhập vai "Dungeons Dragons", các ma thuật sư thể hiện sự đồng nhất về mặt đạo đức của họ qua màu sắc áo choàng của họ.
Ma đạo thư (grimoire) hay sách phép thuật, thường là những quyển sách giáo khoa về ma thuật, thường bao gồm các hướng dẫn về cách thực hiện tạo ra các vật thể ma thuật như bùa hộ mệnh, cách thực hiện ma thuật, bùa chú và bói toán cũng như cách triệu hồi hoặc cầu khẩn các thực thể siêu nhiên như thiên sứ, tinh linh, ác quỷ.
Dụng cụ ma thuật.
Dụng cụ ma thuật (hay "ma đạo cụ)" của các ma thuật sư thường là quả cầu pha lê, là một quả cầu pha lê hoặc thủy tinh thường gắn liền với khả năng thấu thị, bói toán hoặc tiên tri.
Đũa phép và gậy phép từ lâu đã được sử dụng làm vật dụng cần thiết cho các ma thuật sư. Có thể bắt nguồn từ những dụng cụ giống như cây đũa phép được sử dụng trong các nghi lễ sinh sản, chẳng hạn như cây đũa phép apotropaic.
Trong "Enchanted Forest Chronicles" của Patricia Wrede mô tả "các ma thuật sư" sử dụng ma thuật dựa trên cây gậy của họ và thực hành một số loại ma thuật, bao gồm cả thuật phù thủy; trong tưởng tượng "về Nhiếp chính", cô và Caroline Stevermer miêu tả các ma thuật sư giống hệt các ma pháp sư, mặc dù kém hơn về kỹ năng và quá thế giới của "Regency" cô và Caroline Stevermer miêu tả các ma thuật sư giống hệt các ma pháp sư, mặc dù kém hơn về kỹ năng và quá trình đào tạo.
Pháp khí là những vũ khí ma thuật mà các ma thuật sư sử dụng trong chiến đấu. |
Mũ đen (bảo mật máy tính)
Hacker mũ đen (black hat hacker hoặc blackhat) là một hacker máy tính vi phạm pháp luật hoặc các tiêu chuẩn đạo đức thông thường vì những mục đích xấu xa, chẳng hạn như tội phạm mạng, chiến tranh mạng hoặc ác ý.
Thuật ngữ này có nguồn gốc từ những bộ phim miền Tây thập niên 1950, khi những kẻ xấu thường đội mũ đen và những kẻ tốt thường đội mũ trắng. Hacker mũ đen được đối lập với hacker mũ trắng. Ngoài ra, còn có một loại thứ ba được gọi là hacker mũ xám, một người hack với ý định tốt nhưng đôi khi không có sự cho phép. |
Sân bay quốc tế Siem Reap–Angkor
Sân bay quốc tế Siem Reap–Angkor ("tiếng Khmer:" អាកាសយានដ្ឋានអន្តរជាតិសៀមរាប-អង្គរ, "tiếng Pháp: Aéroport International de Siem Reap-Angkor") #đổi , là một sân bay quốc tế nằm ở huyện Sotr Nikum, tỉnh Siem Reap, phục vụ thành phố Siem Reap, Campuchia. Nó nằm về phía đông bắc Damdek, phía đông Angkor Wat và về phía đông nam Siem Reap. Nó sẽ thay thế Sân bay quốc tế Siem Reap hiện tại làm sân bay chính của thành phố và sẽ đóng vai trò là sân bay chính của tỉnh cũng như miền Tây Campuchia. Nó cũng sẽ trở thành sân bay lớn nhất ở Campuchia. Việc xây dựng bắt đầu vào tháng 7 năm 2018 và dự kiến hoàn thành vào năm 2021/22, nhưng do đại dịch COVID-19 và thiếu lao động cũng như các hạn chế nên đã gây ra sự chậm trễ trong công việc. Sân bay dự kiến khai trương vào ngày 16 tháng 10 năm 2023.
Sân bay được xây dựng thành ba giai đoạn, với chi phí 880 triệu USD và trên diện tích 750 ha, Sân bay sẽ có một nhà ga hành khách được trang bị 15 ống lồng dẫn khách ra máy bay, một nhà ga hàng hóa, một nhà ga giao thông hàng không. Tháp điều khiển ATC, đường băng dài 3.605 mét với đường lăn song song kết nối với các công trình phụ trợ khác. Nhà ga sẽ có thể tiếp đón 5–7 triệu hành khách mỗi năm trong giai đoạn đầu.
Đường băng của sân bay sẽ có khả năng tiếp nhận các máy bay như Boeing 737 và Airbus A320, trong khi ở giai đoạn thứ hai, đường băng sẽ được mở rộng để tiếp nhận các máy bay thân rộng như Boeing 777, Boeing 747, Airbus A350 và Airbus A330, sẽ nâng công suất của sân bay lên 10 triệu hành khách mỗi năm vào năm 2030, và cuối cùng trong giai đoạn thứ ba, tổng công suất sẽ tăng lên hơn 20 triệu hành khách/năm, đến năm 2050. Sân bay sẽ được kết nối với đường cao tốc sân bay nối thẳng từ thành phố. |
DFF phục vụ như hệ thông tuyên truyền chính của Đảng XHCN Thống nhất Đức. Nó được biết đến với cái tên Fernsehen der DDR (DDR-FS, ) từ năm 1972 đến năm 1990. Sau năm 1990, 3 kênh của DFF đều chuyển giao cho Tây Đức, trước khi chính thức giải thể vào năm 1991.
Vô tuyến truyền thanh là phương tiện vô tuyến chính ở Khối Warsaw trong những năm 1950, khi vô tuyến truyền hình được coi như thứ yếu vào lúc cả khối thực hiện những hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa. Đông Đức là một ngoại lệ, do sự cạnh tranh các làn sóng vô tuyến phát thanh với đối thủ ở phía Tây bức màn sắt; nhất là khi đài Nordwestdeutscher Rundfunk (NWDR, ) của Tây Đức bắt đầu lập kế hoạch phát sóng truyền hình trong một vùng phủ sóng bao gồm cả Đông Berlin, và phát sóng thử vào năm 1950.
Vì thế, các quan chức Đông Đức bắt đầu coi vô tuyến truyền hình là một thứ quan trọng, và xây dựng một trung tâm truyền hình ở Adlershof (Berlin) vào ngày 11 tháng 5 cùng năm cùng với những buổi phát sóng thử đầu tiên. Truyền hình Đông Đức cũng bắt đầu phát sóng thử vào ngày 20 tháng 12 năm 1951. Đối thủ NWDR của họ sau đó thông báo bắt đầu phát sóng từ Hamburg từ Giáng sinh 1952. Việc này khiến cho chính quyền Đông Đức đẩy nhanh việc chuẩn bị phát sóng.
Một trạm relay truyền hình được xây dựng ở Trung tâm Đông Berlin vào tháng 2 năm 1952 và kết nối trạm với Trung tâm Adlershof được mở vào ngày 3 tháng 6. Vào ngày 16 cùng tháng, những bộ vô tuyến đầu tiên đã được bán với giá 3500 Mác Đông Đức 1 bộ. Truyền hình liên tục, dù vẫn được dán tem thử, bắt đầu vào ngày 21 tháng 12, sinh nhật của Joseph Stalin, phát sóng 2 tiếng một ngày. Phát thanh viên Margit Schaumaker chào mừng khán giả và giới thiệu logo của DFF - Cổng Brandenburg. Tiếp theo đó là những bài diễn văn của những nhân vật máu mặt trong cơ quan, và bản đầu tiên của chương trình thời sự "Aktuelle Kamera" (), được dẫn bởi phát thanh viên Herbert Kofer.
Chính sách của Đảng XHCN Thống nhất là kiểm duyệt những mạng lưới truyền thông "lớn" (vd. báo chí hay radio), trong khi lúc đó "truyền hình" không được coi như vậy do lượng người xem nhỏ. Vì thế, chương trình thời sự "Aktuelle Kamera" lúc đầu còn không bị kiểm duyệt và có thể nói xấu chính quyền. Mọi thứ bắt đầu thay đổi khi "Aktuelle Kamera" chỉ trích nhầm chỗ cuộc nổi dậy 1953, từ đó Đảng XHCN Thống nhất bắt đầu kiểm soát DFF, và tin tức chỉ được trích từ nguồn chính thức.
Từ khi DFF được thành lập, mạng lưới truyền hình mở rộng nhanh
Chất lượng truyền hình và số lượng studio truyền hình cũng mở rộng. Vào mùa hè năm 1953, "Studio I" được mở cửa ở Adlershof; còn năm 1955 diễn ra buổi phát sóng lưu động đầu tiên. Vào 2 tháng 1 1956, DFF dừng phát sóng thử, và ngày hôm sau bắt đầu phát sóng chính thức.
Đài truyền hình lúc đó không mang tên "Truyền hình Đông Đức" vì chính quyền Đông Đức muốn thực hiện truyền hình toàn quốc, dã tâm này cũng giống như hệ thống ở phía Tây. Nhưng địa lý Đức lại không cho phép - mặc dù phía Đông xây nhiều tháp truyền hình có mức tín hiệu cao ven biên giới nội Đức, Đông Đức không thể nối dải tín hiệu đi xa được. Hài hước là đài ARD Tây Đức (hậu thân của NWRF, NWRF là thành viên của ARD) phát sóng đến gần hết toàn bộ Đông Đức trừ phía Đông Bắc và Đông Nam, những vùng đấy sau này được gọi đùa là "Tal der Ahnungslosen", hay "thung lũng của những kẻ vô tri". ZDF (một hãng truyền hình Tây Đức khác) và ARD sớm được gọi đùa theo cặp là "Zentral Deutsches Fernsehen ausser Rugen und Dresden" (Truyền hình Trung ương Đức trừ Rugen và Dresden) như một trò chọc đi đôi với "Tal der Ahnungslosen".
Vào cuối năm 1958, đã có hơn 300 000 bộ thu sóng truyền hình ở Đông Đức.
Những chương trình thời sự và chính trị của DFF thường không cùng giờ với những chương trình thời sự và chính trị của Tây Đức, do có thể đa phần những người xem sẽ yêu thích những chương trình phía Tây hơn. Lấy ví dụ, "Aktuelle Kamera" phát sóng vào lúc 7:30 tối, giữa hai chương trình chính luận Tây Đức "heute" (hôm nay) của ZDF và "Tagesschau" (tin tức hàng ngày) của ARD lúc 19:00 và 20:00. Còn những chương trình giải trí (như "Ein Kessel Buntes" ()) thì hay được xếp lịch trùng với những chương trình tin tức và giải trí Tây Đức với hy vọng thu hút khán giả khỏi những đài truyền hình phương Tây. Còn những chương trình khác (như phim) được xếp sau những chương trình tuyên truyền như "Der schwarze Kanal" với hy vọng là những người xem phim sớm sẽ xem luôn tuyên truyền.
Từ ngày 7 tháng 10 1958 - nghĩa là 2 năm sau khi phát sóng chính thức, DFF bắt đầu phát sóng lặp lại những chương trình buổi tối vào buổi sáng với đối tượng là nhân công làm ca, với slogan "Wir wiederholen für Spätarbeiter" ("Chúng tôi phát lại cho những người làm ca đêm").
DFF/DDR-FS cũng sản xuất một số chương trình giáo dục cho trường học; bao gồm những môn hóa, lý, lịch sử thế giới, lịch sử và địa lý Đức, giáo dục công dân và tiếng Nga. Họ cũng sản xuất một số chương trình giáo dục không cho trường học như ESP - "Einführung in die sozialistische Produktion" ("Giới thiệu về sản xuất theo mô hình xã hội chủ nghĩa") và chương trình tiếng Anh English for You. Các chương trình này đều nằm trong kho lưu trữ DRA của ARD ở Babelsberg.
Sau khi Bức tường Berlin tồn tại từ tháng 8 năm 1961, Đông Đức bắt đầu ngăn cản truyền hình Tây Đức. Họ không thể làm nhiễu tín hiệu do không thể không làm nhiễu thêm tín hiệu cả ở Tây Đức, việc này sẽ vi phạm Hội nghị Yalta và chắc chắn Tây Đức sẽ làm điều tương tự để trả lại. Thay vì vậy, FDJ ("Freie Deutsche Jugend", Thanh niên nước Đức tự do, dạng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của Đông Đức) bắt đầu chương trình "Blitz contra Natosender" – "Đánh vào những trạm phát sóng NATO" cùng năm, huy động thanh niên phá hủy những trạm phát sóng Tây Đức. Từ "Republikflucht" ("chạy khỏi Đông Đức mà chưa xin giấy phép") sau đó cũng có ý nghĩa hài hước "xem truyền hình Tây Đức". Dù vậy, dân phía Đông vẫn xem ARD, dẫn tới việc phát triển "Der schwarze Kanal".
Từ những năm 1970, Đảng XHCN Thống nhất Đức bắt đầu nới lỏng hạn chế, và trong một số trường hợp người dân Đức còn được xây những tháp antenna to có khả năng bắt đài ngoài ở những nơi không thu phát được. Những chiếc antenna ngoại cỡ trên mái nhà vẫn còn ở một số thành phố vốn thuộc Đông Đức hôm nay.
Truyền hình màu và DFF2.
Truyền hình màu đã được bắt đầu vào 3 tháng 11 1969 trên kênh mới DFF2 bắt đầu phát sóng cùng ngày, để chuẩn bị cho 20 năm Quốc khánh Đông Đức 7 tháng 10. DFF đã chọn chuẩn SECAM của Pháp, phổ biến ở khối Warsaw; thay vì chuẩn PAL do Tây Đức phát minh. Các bộ vô tuyến có thể thu phát cả truyền hình đen trắng và truyền hình màu do chuẩn truyền hình vẫn như nhau. Những bộ vô tuyến truyền hình màu vốn có ít ở Đông Đức và nhiều bộ cũng đã được chuyển bằng tay để nhận các tín hiệu theo chuẩn PAL và SECAM. Sau đó, những nhà sản xuất Đông Đức cũng sản xuất những bộ có thể thu cả SECAM và PAL.
Việc DFF2 được phát sóng cũng đã tăng tổng số giờ phát sóng truyền hình.
Vào ngày 11 tháng 2 1972, DFF đổi tên thành DDR-FS (Deutschen Demokratische Republik - Fernsehen, mang nghĩa Truyền hình Đông Đức), bỏ sự liên quan đến việc truyền hình toàn Đức. Tên DFF cũ vẫn còn trong chương trình "Người cát" (The Sandman), được chiếu lại khá nhiều.
Do DFF2/DDR-F2 đa phần phát sóng vào buổi tối, rất dễ phát sóng những chương trình đặc biết vào buổi chiều.
Olympic 1980 và hệ thống truyền hình vệ tinh Gorizont.
Việc Moscow được tổ chức Olympic mùa hè năm 1980 là sự tự hào lớn với khối phía Đông. Trái lại, việc Liên Xô đưa quân vào Afghanistan năm 1979 đã khiến cho phương Tây căm giận, dẫn thới việc Thế vận hội bị 64 quốc gia thân khối phía Tây tẩy chay. Vì vậy, DDR-FS có ý định phát sóng Thế vận hội bằng truyền hình màu cho phía Tây thuộc khối Mỹ và vì thế tẩy chay Thế vận hội; do vậy đài quyết định phát sóng thử bằng chuẩn PAL. Những thử nghiệm đó không kết quả. Tới năm 1985, có 6 078 500 bộ truyền hình được đăng ký chính thức, hơn 5 778 500 bộ so với năm 1958, đồng nghĩa với 36.5 bộ cho mỗi 100 người.
Năm 1988, hệ thống vệ tinh phát sóng truyền hình Gorizont bắt đầu phát sóng với tầm phủ tới gần như toàn bộ châu Âu, Bắc Phi và phần phía Tây châu Mỹ với những kênh của toàn bộ khối XHCN bao gồm DDR-F1.
Liên Xô sụp đổ, Đông Đức sụp đổ và tác động lên DDR-FS.
Vào năm 1989, Đông Đức cố gắng triệt tiêu ảnh hưởng của phương Tây với giới trẻ và đưa họ sát hơn với chế độ. Chương trình mới "Elf 99" ("Elf" là số 11, 1199 là mã bưu điện của studio Adlerhof) đã lên sóng như một phần kế hoạch. Kế hoạch đã không toàn công vì diễn ra vừa cũng với lúc kinh tế Đông Đức sụp đổ và áp lực cải tổ tăng lên dưới thời Mikhail Gorbachov.
Khi những cuộc biểu tình yêu cầu thống nhất bắt đầu vào ngày 9 tháng 9 năm 1989, DDR-FS đi theo đường lối chính phủ - quyết định không đưa tin về vấn đề. Nhưng sau khi Erich Honecker từ chức vào ngày 18 tháng 10, DDR-FS bắt đầu loại bỏ tự kiểm duyệt và tuyên truyền cùng lúc Đảng XHCN Thống nhất bắt đầu mất quyền lực, biểu hiện đầu tiên là việc "Aktuelle Kamera" đưa tin không hạn chế về cuộc biểu tình ở Leipzig 2 ngày trước khi Honecker từ chức và "Der schwarze Kanal", một chương trình châm biếm tin tức từ phương Tây mà ta đã nhắc đến, dừng phát sóng từ ngày 30 tháng 10 sau khoảng 20 năm lên sóng.
Khi bức tường cuối cùng cũng sụp đổ vòa ngày 9 tháng 11, chương trình tin tức chính trên DDR-F2 đã hết kiểm duyệt và tự kiểm duyệt, và đưa tin chân thực sự kiện này. Do sự chân thực khi đưa tin, kênh truyền hình phía Tây 3sat đã phát lại tin tức. DDR-FS tham gia 3sat vào tháng 2 1990. Chỉ sau 5 tháng, DDR-FS từ kênh tuyên truyền chính của Đảng XHCN Thống nhất thành một đơn vị gần như độc lập, và bắt đầu phát những chương trình bao gồm một cuộc bàn luận mở mỗi thứ 5 trong đó khán giả có quyền gọi thẳng đến trường quay để nhận xét và cho thêm ý kiến. Trong vài tháng đầu, sự tự do đến cùng thận trọng khi Stasi vẫn hoạt động và có chân trong trong đài.
Vào tháng 2 năm 1990, Volkskammer (Nghị viện Đông Đức) quyết nghị biến DDR-FS thành một đơn vị phát sóng độc lập khỏi quyền kiểm soát của nó, và việc này đã được luật hóa vào tháng 9 năm 1990. Vào ngày 12 tháng 3, DDR-F1 và DDR-F2 đã được đổi tên lại thành DFF1 và DFF2 để loại bỏ cái tên Đông Đức và chuẩn bị cho việc thống nhất nước Đức. Việc này mở đường cho nhiều quảng cáo hơn, kiểu phát sóng như ARD và ZDF, các chương trình Mỹ, và những bản tin vùng của những nơi trước kia là Đông Đức.
Vào ngày thống nhất 3 tháng 10 1990, DFF ngừng nhiệm vụ truyền hình quốc gia cho quốc gia Đông Đức không còn tồn tại. Do Luật cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức đưa phát sóng truyền hình vào nhiệm vụ của các bang, chính quyền mới không được phép có một đài phát sóng riêng. Điều 36 của Hiệp ước Thống nhất xác định "ngày tàn" của DFF là ngày 31 tháng 12 1991 và những đài truyền hình Tây Đức sẽ thế chân nó.
Vào 20:00 ngày 15 tháng 12 năm 1990, Kênh 1 ("Erstes Deutsches Fernsehen", nay là "Das Erste") của ARD phát trên làn sóng vốn thuộc về DFF1. Theo Luật cơ bản, dịch vụ truyền hình sau đó sẽ được phục vụ bởi các bang, nhưng phần Đông Đức chưa có dịch vụ ARD để thay thế. Vì vậy, DFF vẫn phải sản xuất nội dung tới ngày 31 tháng 12 cho những chương trình:
Sự tan rã của DFF và việc thay thế nó bởi các đài ARD theo bang đã tạo ra chỉ trích trong suốt quá trình.
Nhân viên của DFF lo lắng về việc họ còn hay mất việc cũng như có sự trung thành cho tổ chức của họ, dù trước đó nó có được dùng để tuyên truyền Cộng sản. Những người xem quen với lối phát sóng của DFF lo ngại về việc mất những chương trình yêu thích và sự lựa chọn giữa truyền hình Đông - Tây. Các bang cho rằng nên giữ một thể khác của DFF lại như bên thứ ba độc lập với những chương trình của ARD, có thể chấp thuận dưới Luật Cơ bản. Nhưng quan điểm chính tri lại ngả lại hướng tách ra các đài địa phương, kiểu mới của phương Tây và cũng theo Luật Cơ bản. Và quan điểm chính trị luôn giữ thế quyết định.
Các bang Saxony, Saxony-Anhalt và Thuringia quyết định đưa hệ thống của họ vào MDR (Phát sóng miền Trung Đức), một thành viên ARD đặt trụ sở ở Leipzig. Mecklenburg-Vorpommern, Brandenburg và Berlin có thể đưa hệ thống của họ vào NORA (Phát sóng Đông Bắc Đức), hay để Brandenburg và Berlin có hệ thống phát sóng riêng còn Mecklenburg-Vorpommern có hệ thống riêng; nhưng họ không đạt được đồng thuận. Do vậy, Mecklenburg tham gia NDR đã tồn tại (Phát sóng Bắc Đức), Berlin mở rộng đài SFB ra toàn thành, còn Brandenburg thành lập đài ORB (Phát sóng Đông Đức, Brandenburg).
DFF phát sóng lần cuối vào nửa đêm 31 tháng 12 năm 1991, đánh chấm hết cho lịch sử gần 40 năm. Những đài địa phương mới bắt đầu phát sóng ngay ngày hôm sau, 1 tháng 1 1952. Vào 1 tháng 5 2003, SFB và ORB hợp nhất thành RBB (Phát sóng Berlin - Brandenburg).
Thông tin kỹ thuật.
Chuẩn truyền hình mặt đất.
Khi bắt đầu phát sóng, Đông Đức chọn dùng chuẩn truyền hình mặt đất B/G của Tây Âu thay cho D/K của Đông Âu - mặc dù chuẩn D/K đã được sử dụng từ trước 1957, để giữ cho làn sóng giữa hai nước tương thích. Vì vậy, dĩ nhiên Truyền hình Đông Đức không tương thích với truyền hình của các nước khác trong khối Warsaw.
Khi truyền hình màu được giới thiệu, như đã nói ở trên, DFF chọn chuẩn SECAM thay vì PAL của Tây Đức. Sự khác nhau giữa hai chuẩn không lớn, cho phép người dùng TV đen trắng hay không tương thích xem cả hai. Đa phần vô tuyến Đông Đức lúc đó vẫn chưa phát truyền hình màu, và những bộ vô tuyến màu thường được mua thêm một bộ điều chỉnh tín hiệu PAL để có thể xem những chương trình Tây Đức; và những bộ truyền hình phát cả SECAM cả PAL đầu tiên được bán từ tháng 12 1977. Điều tương tự kỳ lạ cũng xảy ra ở phía Tây. DDR-FS cũng đã thử phát truyền hình PAL vào dịp Olympics 1980, kỳ Thế vận hội này không được phía Tây cho lên sóng nhiều vì họ tẩy chay nó.
Khi thống nhất nước, chuẩn SECAM được giữ nguyên. Lý do là vì sự khác biệt giữa hai chuẩn không lớn lắm. Việc chuyển tín hiệu từ SECAM sang PAL chỉ diễn ra sau khi DFF1 dừng phát sóng ngày 14/12 và ARD lên sóng sớm ngày 15.
Dù sau này DFF/DDR-FS quyết định lùi về chuẩn kênh truyền hình Tây Âu, những buổi phát đầu tiên dùng 7 kênh VHF, có một số kênh không liên quan gì đến bất kỳ tiêu chuẩn cả quốc nội và quốc tế.
Tới khoảng năm 1960, chuẩn kênh Tây Âu cũng được áp dụng.
Một số bộ thu vô tuyến được sản xuất ở Đông Đức vào thời sơ khai chỉ có thể dùng 7 làn sóng của DFF (chứ không phải cả 11 kênh VHF) như một kế hoạch để chống lại việc người dân xem truyền hình Tây Đức. Sau đó khi DDR-F2 được đưa vào hoạt động, những bộ điều chỉnh tần số UHF cũng được đưa vào lưu hành, nhưng những bộ đầu tiên chỉ nhận những tần số thấp hơn trong dải.
Phát kiến kỹ thuật.
DDR-FS là đài truyền hình Đức đầu tiên sử dụng hệ thống băng Betacam. Hệ thống này sau đó cũng đã được sử dụng bời tất cả những đài truyền hình Đức, và hiện tại ARD-ZDF vẫn sử dụng nó.
Vào năm 1983, DDR-FS cũng tiên phong sử dụng hệ thống Steadicam tách cử động của người cầm máy quay với cử động của máy quay khi phát sóng trực tiếp.
Phát sóng ở Đông Đức được chu cấp tài chính bởi một loại thuế giấy phép phát sóng bắt buộc, với tổng là 10.5 Mark/năm cho một giấy phép hỗn hợp truyền hình/radio. Khoản phí thu cho radio đặt trên phương tiện là 0.5 đến 2 Mark. Đã từng có thời gian người xem không có ăng-ten VHF để nhận DDR-F2 nhận ít thuế truyền hình hơn, nhưng chuẩn này sau dó bị cho là không thực tế và bị loại bỏ.
Hoạt động phát sóng cũng được nhận rất nhiều tài trợ chính phủ. Ví dụ là năm 1982 Đông Đức nhận 115.4 nghìn Mark tiền thuế giấy phép, trong khi họ đổ 222 nghìn vào hoạt động truyền hình đúng một năm sau.
Quảng cáo ở Đông Đức từ 1949-1989 gần như không tồn tại theo nghĩa ta hiểu. Trong một nên kinh tế mệnh lệnh, không có sự cạnh tranh giữa các nhãn hiệu, và quảng cáo trên truyền hình Đông Đức (xuất hiện từ 1959) chỉ bao gồm "sản phẩm có sẵn tạ". Cuối cùng đến năm 1975, Đông Đức bỏ kiểu quảng cáo phương Tây và chuyển sang phát những đoạn "hướng dẫn mua hàng", chỉ ra giá cả và sự có sẵn của các mặt hàng. Khi Đông Đức sụp đổ, DFF phải tự nhồi quảng cáo để nuôi sống mình, vì vậy hãng môi giới quảng cáo Pháp "Information et Publicité" được thuê để sản xuất và đặt quảng cáo trên đài.
Những bộ "feature film" vào tối thứ 2 (thường là phim giải trí từ thập niên 1930-40) là một trong những chương trình khá phổ biến trên DFF.
Vào ngày 8 tháng 10 1958, DFF chuyển chương trình "Sandmännchen" (Người cát bé nhỏ) từ đài lên ảnh. Cả hai bên biên giới đều có ý tưởng thực hiện chương trình này như nhau: một bộ phim ngắn dụ trẻ lên giường trước khi chương trình người lớn bắt đầu vào lúc 7 giờ tối. Đã có nhiều thế hệ trẻ em lớn lên cùng với Người cát, và "Sandmännchen" trở thành ký ức tuổi thơ của nhiều người.
Phiên bản "Sandmännchen" của phía Tây bị ARD cắt bỏ sau thống nhất; dù vậy những đài truyền hình ở khu vực Đông Đức vẫn phát các bản cũ của phía Đông, hiện tại vẫn còn RBB và KIKA. Nhân vật này đóng vai trò quan trọng trong phim bi hài kịch "Tạm biệt, Lenin!" (Good Bye, Lenin!), nhấn mạnh cảm giác mất mát của nhân vật chính.
Tên của DFF/DDR-FS và các kênh của nó thay đổi nhiều lần: |
Aktuelle Kamera () là chương trình thời sự chính của đài , đài truyền hình quốc gia của Cộng hòa Dân chủ Đức. Bắt đầu phát sóng từ ngày 21 tháng 12 năm 1952, phát sóng hàng ngày từ 11 tháng 10 năm 1957 và dừng sóng vào ngày 14 tháng 12 năm 1990, Aktuelle Kamera là một trong những công cụ tuyên truyền chính của Chính phủ Đông Đức.
Bản phát chính của "Aktuelle Kamera" được chiếu vào lúc 20:00 cho đến khi chuyển đến 19:30 vào những năm 1960, để không lặp vào những chương trình thời sự Tây Đức - "Tagesschau" của ARD lúc 20:00 và "heute" của ZDF lúc 19:00, khá phổ biến ở Đông Đức. Thời lượng chương trình ban đầu là 20 phút, từ năm 1972 được mở rộng thành 30 phút.
Từ giữa thập niên 1970, một bản "Aktuelle Kamera" dài 30 phút cũng được phát trên DFF2 (DFF2 bắt đầu phát sóng từ 3 tháng 10 năm 1969) vào khoảng 21:30. Trước đó, hai kênh DFF1 và DFF2 đều có chung lịch phát sóng, và chương trình chung được lặp lại vào lúc DFF1 mở sóng từ 9:30 (sau này là 8:30) hôm sau, trước khi phát những chương trình giáo dục đồng sản xuất với Bộ Giáo dục.
Những bản tổng kết tin tức ngắn được thêm vào sau khi thời lượng phát sóng tăng. Thường thì sẽ có một bản tin trưa sau khi phát xong các bản tin sáng (tầm giữa 12:00 - 13:00) và một bản tin chiều lúc 17:00 trên DFF1. DFF2 luôn bắt đầu buổi tối bằng một bản tin "Aktuelle Kamera" vào lúc 18:45, rồi mốc thời gian được sửa thành 17:45 và sau rốt 18:55. Tin tức đêm được thêm vào cuối những năm 1970 khi DFF1 chiếu một bản tổng kết những đầu mục tin tức trong ngày vào khoảng 22:00. Từ những năm 1980s, đầu mục tin tức "Aktuelle Kamera" cuối ngày là chương trình cuối trước khi tắt sóng.
1989-1990 (Cách mạng 1989).
Từ tháng 10 1989, gần 1 tháng trước khi Bức tường Berlin sụp đổ, "Aktuelle Kamera" giảm dần việc kiểm duyệt và bắt đầu phát tin về những sự kiện sẽ dẫn tới việc Đông Đức sụp đổ. Vào ngày 16 tháng 10, "Aktuelle Kamera" đưa tin về những cuộc biểu tình chống chính phủ khổng lồ mỗi thứ hai ở Leipzig. Hai ngày sau, "Aktuelle Kamera" cũng đưa tin về cuộc họp khẩn cấp của Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức, cuộc họp này loại bỏ nhiều thành viên lãnh đạo (bao gồm Tổng Bí thư Erich Honecker) và một số thành viên của Ủy ban Chấp hành.
Vào ngày 30 tháng 12, "Aktuelle Kamera" trên DDR-F2 được đổi tên thành "AK Zwo". 3 tháng sau, kiểu trình bày của "AK Zwo" được đưa sang DDR-F1 vào ngày 12 tháng 3 năm 1990. Buổi phát trưa, lúc này cố định ở 12:50, mang tên "AK am Mittag" ("AK buổi trưa"), buổi phát chính 19:30 mang tên "AK am Abend" ("AK buổi tối") còn những bản tin ngắn mang tên "AK-Nachrichten" ("Thời sự AK") hay "AK-Kurznachrichten".
"Aktuelle Kamera" có đưa tin về sự kiện thống nhất nước Đức và Đông Đức sụp đổ vào ngày 2 đến 3 tháng 10 năm 1990.
Lịch phát sóng sự phổ biến.
Trên thực tế, khán giả truyền hình thường bỏ qua "Aktuelle Kamera" đơn giản vì họ thích xem thời sự của ARD và ZDF hơn. Để ngăn chặn việc này, khi chuyển đổi thành phát sóng màu, chính quyền Đông Đức tiếp thu chuẩn SECAM thay vì PAL, chặn tín hiệu truyền hình màu Tây Đức (dù đa phần vô tuyến Đông Đức lúc đó là đen trắng, mà việc không xem được màu cũng chẳng phải chuyện lớn). Người dân phản ứng bằng việc mua những bộ chuyển đổi tín hiệu PAL, và sau đó khi chính phủ dừng coi việc "Republikflucht via Fernsehen" ("Chạy trốn nước Cộng hòa qua vô tuyến truyền hình"), Đông Đức bắt đầu sản xuất những bộ truyền hình nhận được cả hai loại tín hiệu SECAM và PAL.
"Aktuelle Kamera" là ví dụ cho chương trình thời sự Estonia "Aktuaalne kaamera", phát sóng lần đầu trên "Eesti Televisioon" vào 11 tháng 5 1956. Hiện tại, "Aktuaalne Kaamera" vẫn đang được chiếu ở Estonia kể cả sau khi chính quyền Cộng sản sụp đổ.
Lúc đầu, "Aktuelle Kamera" (theo chuẩn Khối phía Đông) là một chương trình khá tiêu cực với chính phủ, do truyền hình lúc đó chưa phải là một cái gì đó quá lớn. Việc này thay đổi khi "Aktuelle Kamera" đưa tin đúng về một thứ đáng lẽ ra họ nên bỏ qua - Nổi dậy tại Đông Đức 1953; và kết quả là chương trình phải tự kiểm duyệt, giám đốc đài bị sa thải và trong suốt 37 năm sau "Aktuelle Kamera" đưa tin từ nguồn chính thức như báo chí và truyền thanh. Những tin trên đài, trừ một số ví dụ ít ỏi, quảng bá Xã hội chủ nghĩa và hạ thấp Khối phía Tây, cho đến năm 1989. |
Hòn Nhạn hay đảo Nhạn là một đảo đá nhỏ thuộc quần đảo Thổ Chu, thuộc xã Thổ Châu, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Đây là điểm A1 trên đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam. Tọa độ của đảo là 09˚15'00" vĩ độ Bắc – 103˚27'00" kinh độ Đông.
Hòn Nhạn có nhiều tên gọi khác như hòn Hàn, hòn Hàng, hòn Chim.
Đảo Hòn Nhạn cách đảo Thổ Chu khoảng 5km về phía tây nam, đảo cao 23m so với mực nước biển, điểm cao nhất khoảng 40m. Đảo có diện tích khoảng 3,37 ha, về địa chất cấu tạo của đảo là đá trắng xếp chồng. Trên đảo có một ít cây bụi, còn lại là trơ trọi đá. Một số cây xanh thân gỗ do bộ đội Trung đoàn 152 của Quân khu 9 mang từ đất liền ra trồng. Các cây bao gồm bàng vuông, phong ba, cây tra, dương biể, đẻ trứng, thời gian đẻ là vào mùa mưa. Đó cũng là lý do đảo có tên là Hòn Nhạn.
Ngày 12 tháng 11 năm 1982, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam, với tất cả 11 điểm chuẩn, Hòn Nhạn là điểm A1 – điểm đầu tiên.
Năm 2017, công trình mốc cơ sở bằng bê tông được xây dựng. Công trình này do Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Kiên Giang quản lý.
Hiện nay, số lượng chim nhạn trên đảo có nguy cơ sụt giảm do người dân địa phương săn bắt và tìm trứng mang về làm thực phẩm. |
Chiến dịch quảng cáo
Chiến dịch quảng cáo là một loạt các thông điệp quảng cáo chia sẻ một ý tưởng và chủ đề duy nhất, tạo thành một truyền thông tiếp thị tích hợp (IMC). IMC là một nền tảng mà trong đó một nhóm người có thể tập hợp các ý tưởng, niềm tin và khái niệm của họ vào một cơ sở dữ liệu phương tiện lớn. Chiến dịch quảng cáo sử dụng các kênh phương tiện đa dạng trong một khung thời gian cụ thể và nhắm mục tiêu đến đối tượng đã xác định.
Chủ đề chiến dịch là thông điệp cốt lõi sẽ được truyền tải trong các hoạt động quảng cáo và là trọng tâm chính của chiến dịch quảng cáo, vì nó thiết lập chủ đề cho chuỗi các quảng cáo riêng lẻ và các hoạt động truyền thông tiếp thị khác sẽ được sử dụng. Chủ đề chiến dịch thường được tạo ra với mục tiêu sử dụng trong một thời gian đáng kể, nhưng nhiều chủ đề trong số đó chỉ tồn tại trong thời gian ngắn do các yếu tố như không hiệu quả hoặc điều kiện thị trường, cạnh tranh và bộ công cụ tiếp thị
Chiến dịch quảng cáo được xây dựng để đạt được một mục tiêu cụ thể hoặc một bộ mục tiêu. Các mục tiêu này thường bao gồm xây dựng thương hiệu, nâng cao nhận thức về thương hiệu, tăng tỷ lệ chuyển đổi/doanh số. Mức độ thành công hoặc thất bại trong việc đạt được các mục tiêu này được đánh giá thông qua các biện pháp đánh giá hiệu quả. Có 5 điểm chính mà một chiến dịch quảng cáo phải cân nhắc để đảm bảo chiến dịch hiệu quả. Các điểm này là: truyền thông tiếp thị tích hợp, kênh phương tiện, định vị, sơ đồ quy trình truyền thông và điểm tiếp xúc. |
Đảng Cộng sản Philippines
Đảng Cộng sản Philippines () là một tổ chức cách mạng cực tả và là một đảng cộng sản theo Chủ nghĩa Marx–Lenin–Mao ở Philippines. Tổ chức này do Jose Maria Sison thành lập vào ngày 26 tháng 12 năm 1968. Đảng này bị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ coi là nhóm khủng bố, cùng với Sison và tổ chức vũ trang New People's Army (NPA) của đảng vào năm 2002. Liên minh châu Âu đã gia hạn chỉ định khủng bố đối với tổ chức này vào năm 2019, mặc dù phán quyết năm 2009 của tòa án cao thứ hai EU đã chấm dứt việc coi Sison là "người ủng hộ khủng bố" và đảo ngược quyết định phong tỏa tài sản của các chính phủ thành viên. Theo "The World Factbook" của Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA), CPP và NPA được thành lập nhằm mục đích gây bất ổn cho nền kinh tế Philippines và lật đổ chính phủ quốc gia.
Tổng thống Philippines và học trò cũ của Sison, Rodrigo Duterte, tuyên bố nhóm này là một tổ chức khủng bố vào năm 2017, mặc dù CPP-NPA vẫn chưa được tòa án Philippines công nhận pháp lý là một nhóm khủng bố.
CPP đã tiến hành chiến tranh du kích chống lại nhà nước kể từ khi thành lập. Mặc dù ban đầu chỉ có khoảng 500 thành viên, đảng đã phát triển nhanh chóng, được cho là do cựu tổng thống và nhà độc tài Ferdinand Marcos tuyên bố và áp đặt thiết quân luật trong suốt 21 năm cầm quyền của ông. Vào cuối thời nhiệm kỳ Marcos, quân số đã tăng lên tới hơn 10.000 binh sĩ. Trong bài phát biểu trước Quốc hội Hoa Kỳ năm 1986, Tổng thống Corazon Aquino thừa nhận sự phát triển nhanh chóng của đảng là do những nỗ lực của Marcos nhằm ngăn chặn nó bằng "các phương tiện giúp nó phát triển" thông qua việc thiết lập thiết quân luật, cho rằng các chính phủ khác coi đó là một bài học khi đối phó với các cuộc nổi dậy của cộng sản.
Năm 2019, Sison tuyên bố rằng số lượng thành viên và những người ủng hộ tổ chức này đang tăng lên, bất chấp tuyên bố của chính phủ Philippines rằng tổ chức này sắp bị tiêu diệt. Tổ chức này vẫn hoạt động ngầm, với mục tiêu chính là lật đổ Chính phủ Philippines thông qua cách mạng vũ trang và xóa bỏ ảnh hưởng của Mỹ đối với Philippines. Đảng này bao gồm Mặt trận Dân chủ Quốc gia, tổ chức thanh niên của đảng; và New People's Army, đóng vai trò là tổ chức vũ trang của nó.
Hiện tại, CPP là tổ chức theo Chủ nghĩa Marx–Lenin–Mao lớn nhất trên thế giới, có khoảng 150.000 thành viên, theo tuyên bố của các cán bộ và quan chức của đảng này. |
Đường gom hay đường phân phối là đường có năng lực từ thấp đến vừa, dùng để di chuyển giao thông từ đường phố đến các đường huyết mạch. Không giống như đường huyết mạch, đường gom được thiết kế để cung cấp lối vào các khu dân cư. Thỉnh thoảng, các khu vực pháp lý phân biệt các đường gom lớn và nhỏ.
Thông số kỹ thuật.
Các đường gom thường rất khác nhau về ngoại hình. Một số đường gom ở đô thị là những đại lộ rộng đi vào các khu dân cư hoặc kết nối các khu vực. Những đường khác là đường phố và thường rộng hơn đường địa phương. Các chợ quy mô nhỏ có thể được tìm thấy trên các đường gom trong khu dân cư. Các cơ sở cộng đồng chính như trường học, nhà thờ và các trung tâm giải trí thường nằm trên các đường gom.
Đường gom thường bao gồm sự kết hợp của các nút giao có đèn giao thông, vòng xoay (bùng binh) hoặc biển báo dừng. Ở Bắc Mỹ, đường gom thường có đèn giao thông tại giao lộ với đường huyết mạch, trong khi bùng binh và điểm dừng hai chiều thường được sử dụng ở Châu Âu.
Đường gom thường có giới hạn tốc độ là 30 ‑ 60 km/h, tùy thuộc vào mức độ phát triển và tần suất tiếp cận địa phương, nút giao thông và người đi bộ cũng như khu vực xung quanh (tốc độ thấp nhất trong khu vực có trường học). Việc điều tiết giao thông đôi khi cũng được sử dụng ở các khu vực cũ trên đường gom.
Đường gom có thể hình thành theo nhiều cách khác nhau. Thông thường, chúng được quy hoạch ở ngoại ô và được xây dựng rõ ràng cho nó; đôi lúc, đường gom lấp đầy những khoảng trống trong hệ thống mạng lưới giữa các tuyến đường huyết mạch. Các nhà quy hoạch đô thị thường xem xét những con đường như vậy khi quy hoạch các khu vực mới vì cơ sở hạ tầng cho các tiện ích như đường dây phân phối điện, cống rãnh và đường ống dẫn nước có thể được xây dựng qua cùng một hành lang. |
Lucy Heartfilia (ルーシィ・ハートフィリア, Rūshii Hātofiria) là một nhân vật hư cấu từ bộ manga "Fairy Tail" của Mashima Hiro. Trong lần đầu xuất hiện ở chương 1 của "Fairy Tail", "Hội Fairy Tail" ("Weekly Shōnen Magazine" xuất bản lần đầu vào ngày 2 tháng 8 năm 2006), Lucy được giới thiệu là nữ pháp sư trẻ tuổi có mơ ước trở thành tiểu thuyết gia. Cô gia nhập hội pháp sư Fairy Tail vì biết tới danh tiếng của hội, bất chấp các thành viên trong hội có xu hướng vô ý phá hoại tài sản. Là một pháp sư tinh linh, Lucy sử dụng những vật phẩm phép thuật gọi là Chìa khóa cổng để triệu hồi các tinh linh, những sinh vật với nhiều năng lực khác nhau đến từ một thế giới khác. Vũ khí đầu tiên của Lucy là một cây roi có đầu hình trái tim, về sau trở thành một cây roi tinh linh có thể co dãn linh hoạt. Lucy xuất hiện trong hầu hết sản phẩm truyền thông của "Fairy Tail", gồm cả hai phim điện ảnh, mọi OVA, light novel và trò chơi video. Diễn viên lồng tiếng cho cô trong các bản Nhật và Anh lần lượt là Hirano Aya và Cherami Leigh.
Mashima cho biết anh thiết kế Lucy với tính cách nghiêm túc, đại diện cho mặt nghệ thuật của anh. Giới phê bình có nhiều đánh giá trái chiều về Lucy: họ dành lời khen cho một vài cảnh chiến đấu của cô và xem cô là người dễ đồng cảm, song họ nhận thấy khâu phát triển nhân vật còn thiếu sót và thường chỉ trích mối quan hệ của cô với các tinh linh. Trong các cuộc khảo sát về độ nổi tiếng, Lucy đạt thứ hạng cao. Nhiều mặt hàng khác nhau liên quan đến cô, chẳng hạn như action figure, đã được bày bán trên thị trường.
Sáng tạo và xây dựng nhân vật.
Lucy Heartfilia là một trong những nhân vật đầu tiên mà tác giả Mashima Hiro sáng tạo trong quá trình phát triển "Fairy Tail". Trong bản phác đầu tiên, Mashima thiết kế cho cô một bộ trang phục với váy có diềm xếp nếp, giày cao gót và bím tóc đôi xoăn. Anh cũng đưa ra thêm ba kiểu tóc thay thế, gồm tóc búi, tóc ngắn che mắt phải và tóc đuôi ngựa một bên tương tự như kiểu mà anh chọn cho bản thiết kế hoàn chỉnh. Cuối cùng, trang phục của Lucy được thay đổi thành áo sơ mi không tay, váy ngắn và bốt. Ban đầu, Mashima định để Lucy sử dụng phép thuật có liên quan đến thẻ bài; tuy nhiên, vì đã có nhiều tác phẩm khác sử dụng ý tưởng này, anh đổi thành chìa khóa. Mashima đặt tên cho Lucy dựa trên bài hát "Lucy in the Sky with Diamonds" của ban nhạc The Beatles.
Khi được hỏi về nét tương đồng của bản thân so với các các nhân vật, Mashima cho rằng anh đôi khi cũng nghiêm túc như Lucy. Anh nói thêm rằng Lucy đại diện cho mặt nghệ thuật của mình, đồng thời xác nhận Lucy là một trong những nhân vật yêu thích của mình và cho biết anh muốn chú trọng vào cô trong lúc phát triển cốt truyện. Mashima cũng nhận xét rằng nhân vật Lucy luôn sống hết mình và rằng đặc điểm này được người hâm mộ yêu thích. Anh cũng xếp Lucy vào nhóm ba nhân vật "Fairy Tail" mà anh muốn ở chung đội hơn cả.
Nói về bản chuyển thể anime của bộ truyện, nữ diễn viên lồng tiếng Hirano Aya (người thể hiện vai Lucy bằng tiếng Nhật) chia sẻ rằng những mối quan hệ tình cảm tiềm năng của Lucy rất được người hâm mộ yêu thích, và cô tự hỏi liệu cuối cùng Lucy có thành một cặp với nhân vật chính Natsu Dragneel hay không. Cô còn nói thêm rằng Mashima thực sự rất thích một cảnh trong "", khi Natsu ôm Lucy. Cô cho biết cảnh Lucy bị tách khỏi tinh linh Bảo Bình đã khiến cô khóc trong suốt buổi thu âm; cô cũng coi Lucy là nhân vật mà cô có thể cùng phát triển. Cherami Leigh là người lồng tiếng cho Lucy bản Anh ngữ.
Lucy lần đầu xuất hiện trong chương 1 của "Fairy Tail" ("Hội Fairy Tail"), được phát hành lần đầu vào ngày 2 tháng 8 năm 2006 trên tạp chí "Weekly Shōnen Magazine" của Nhật Bản. Cô là con gái của ông trùm kinh doanh Jude Heartfilia và pháp sư tinh linh Layla Heartfilia. Lucy yêu thích các tinh linh của Layla từ nhỏ và được thừa hưởng hai chiếc Khóa cổng vàng của mẹ cô để triệu hồi các tinh linh hoàng đạo, rồi có được chiếc chìa khóa thứ ba vào trước thời điểm câu chuyện bắt đầu. Sau khi Layla mất, mối quan hệ giữa Lucy và cha Jude xấu dần; cô rời nhà để gia nhập hội Fairy Tail mà cô ngưỡng mộ bất chấp xu hướng vô ý phá hoại tài sản mà các thành viên của hội gây ra. Cô được hai thành viên của hội là pháp sư hỏa thuật và Sát Long Nhân Natsu Dragneel cùng bạn đồng hành Happy giải cứu khỏi một tên tội phạm; họ mời cô vào hội sau khi nghe cô kể về mục tiêu của mình. Để trả tiền thuê nhà của mình ở Magnolia (thành phố có trụ sở của Fairy Tail), Lucy nhanh chóng hợp tác với họ. Trong nhiệm vụ đó, cô thể hiện khả năng triệu hồi tinh linh và dùng roi thành thạo. Sau đó ba người lập thành một hội cố định với pháp sư băng thuật Gray Fullbuster và pháp sư áo giáp Erza Scarlet, qua đó họ trở thành đội mà các thành viên trong hội xem là đội mạnh nhất của Fairy Tail, bất chấp sự thiếu kinh nghiệm và kỹ năng phép thuật còn hạn chế của Lucy.
Không lâu sau khi gia nhập hội, Jude thuê hội Phantom Lord bắt cóc nhằm đưa cô về nhà để tiến hành một cuộc hôn nhân sắp đặt. Sau khi Phantom Lord thất bại, Lucy tuyên bố cắt đứt quan hệ gia đình với Jude; dẫu vậy, hai cha con bắt đầu hàn gắn mối quan hệ sau khi ông phá sản. Qua các trận chiến, Lucy dần cải thiện kĩ năng pháp thuật, chẳng hạn như làm chủ phép thuật tinh linh quyền năng Urano Metoria, và thay thế cây roi cũ đã mất bằng cây roi năng lượng có thể co dãn Fleuve d'étoiles. Tính đến cuối truyện, cô ký khế ước với 10 trong số 12 tinh linh hoàng đạo, kể cả cậu bạn cùng hội và tinh linh bị ruồng bỏ Loke sau khi thuyết phục Tinh Linh Vương gỡ bỏ lệnh lưu đày cậu khỏi tinh linh giới.
Sau khi tham dự kỳ thi thăng cấp S của hội trên Đảo Sirius, Lucy cùng với nhiều thành viên khác được nguyên hội trưởng Mavis Vermillion đặt trong trạng thái tạm dừng sinh học bằng phép thuật phòng thủ Tiên Cầu để bảo vệ khỏi con rồng Acnologia. Khi tỉnh dậy 7 năm sau, Lucy nhận được tin Jude đã mất vì làm việc quá sức. Trong giải đấu Đại hội Pháp thuật thường niên của Vương quốc Fiore, một Lucy đến từ tương lai sử dụng cánh cổng du hành thời gian Nhật Thực để quay trở lại hiện tại cảnh báo bạn bè cô về một cuộc tấn công sắp tới do những con rồng đến từ quá khứ gây ra; Lucy tương lai mất mạng trong lúc lấy thân mình bảo vệ phiên bản hiện tại của cô do bị Rogue Cheney tương lai, kẻ du hành thời gian còn lại, tấn công. Sau đó, cùng toàn bộ 12 tinh linh hoàng đạo và pháp sư tinh linh Yukino Agria, Lucy kịp thời đóng Nhật Thực, ngăn chặn được cuộc khủng hoảng. Khi hội của cô bị hắc hội Tartaros vô hiệu phép thuật, Lucy buộc phải phá hủy chìa khóa tinh linh Bảo Bình của mình để tạm thời triệu hồi Tinh Linh Vương, và ông là người cứu mạng bạn bè cô.
Một năm sau khi Fairy Tail giải tán, Lucy học được phép thuật biến đổi thành Tinh Phục, cho phép cô tự mình sử dụng sức mạnh của các tinh linh. Ngay sau khi Natsu và Happy hợp lực cùng cô lập lại hội, cô và các thành viên khác của Fairy Tail dấn thân vào cuộc chiến chống lại Đế quốc Alvarez do hắc pháp sư Zeref, anh trai của Natsu, lãnh đạo. Sau lần tái ngộ tạm thời giữa Lucy và tinh linh Bảo Bình, Lucy quyết tâm tìm kiếm chiếc chìa khóa đã rèn lại của tinh linh này sau trận chiến để đoàn tụ với cô. Khi Lucy phát hiện ra rằng Natsu là một con quỷ có tên gọi "Etherious Natsu Dragneel" (E.N.D), và cậu sẽ mất mạng nếu Zeref bị giết, cô chỉnh sửa cuốn sách chứa linh hồn của E.N.D để cắt đứt mối liên hệ của Natsu với cuốn sách, giúp cậu sống sót trong trận chiến với Zeref. Cùng với các pháp sư trên khắp lục địa, Lucy giam cầm Acnologia trong Tiên Cầu, trong khi hình dạng linh hồn của con rồng bị Natsu và các Sát Long Nhân khác tiêu diệt. Một năm sau, Lucy xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay dựa trên cuộc phiêu lưu của mình trong hội; cuốn tiểu thuyết này đạt giải văn học. Cuối truyện, cô cùng đội của mình bắt đầu thực hiện "nhiệm vụ thế kỷ", một nhiệm vụ chưa bao giờ được hoàn thành trong vòng 100 năm.
Trong các tác phẩm khác.
Lucy có mặt ở cả hai phim điện ảnh của "Fairy Tail". Ở phần phim điện ảnh đầu tiên ' (2012), Lucy kết bạn với một cô gái tên Éclair và giúp cô tiến đến nơi mà mình cần đến. Lucy còn xuất hiện trong phần mở đầu bộ manga yomikiri mà Mashima Hiro sáng tác cho phần phim lẫn bản chuyển thể hoạt hình của tác phẩm. Ở phần phim hậu truyện/phần hai ' (2017), Lucy và các đồng đội ở Fairy Tail được Vua Fiore giao nhiệm vụ đem về cây trượng Dragon Cry bị mất trộm.
Lucy còn là nhân vật hiện diện ở cả 9 bộ OVA của "Fairy Tail". Trong bộ OVA đầu tiên, cô đến thăm Fairy Hills, ký túc xá dành cho nữ của Fairy Tail; ở bộ thứ hai, Lucy được miêu tả thành một sinh viên học viện; trong bộ thứ ba, cô bị một cuốn sách phép thuật đưa về quá khứ; ở bộ thứ tư, cô tham gia trại tập huấn để chuẩn bị cho Đại hội Pháp thuật; trong bộ thứ 5, Lucy đến công viên nước để vui chơi và thư giãn; bộ thứ 6 là một OVA crossover giữa hai tác phẩm "Fairy Tail" và "Rave Master" của Mashima Hiro, trong đó Lucy và Elie (nữ chính của "Rave Master") lần lượt tìm kiếm Natsu và Haru Glory (nhân vật chính của "Rave Master)"; trong bộ thứ 7, Lucy tham gia vào một trò chơi batsu; ở bộ thứ 8, cô và các thành viên khác trong hội cố gắng xoa dịu Mavis Vermillion; và ở bộ thứ 9, các thành viên Fairy Tail tụ tập tại nhà của Lucy để đón Giáng Sinh. Cô còn hiện diện ở mọi cuốn light novel dựa trên tác phẩm, chẳng hạn như cuốn mà vai trò của cô được lấy cảm hứng từ nhân vật Alice trong tiểu thuyết "Alice ở xứ sở thần tiên", và một cuốn mà các thành viên của hội Fairy Tail hóa thân thành các samurai. Lucy cũng có mặt trong "" (phần hậu truyện của manga "Fairy Tail", kết nối trực tiếp từ manga gốc). Cô còn góp mặt trong một số phần ngoại truyện từ bộ manga gốc, trong đó có một phần liên quan đến các thành viên nữ của Fairy Tail.
Lucy là một nhân vật người chơi trong nhiều trò chơi video "Fairy Tail", chẳng hạn như trò chơi video hành động "Fairy Tail: Portable Guild" (2010) trên hệ máy PlayStation Portable do Konami phát triển, cùng "Fairy Tail: Portable Guild 2" (2011), và "Fairy Tail: Zeref Awakens" (2012). Cô xuất hiện trong trò chơi video nhập vai đa nền tảng mà Gust Co. Ltd. phát triển. Lucy còn có mặt cùng Natsu trong trò chơi video crossover (2009).
Đánh giá chuyên môn.
Những đánh giá chuyên môn dành cho nhân vật Lucy phân luồng rõ rệt. Các nhà phê bình đã nhận xét về cách xây dựng nhân vật trong bộ manga. Trong lúc đánh giá bộ manga, Carl Kimlinger của "Anime News Network" ("ANN") xem mối quan hệ của Lucy với các tinh linh của cô là "tệ hại". Anh thấy Lucy có tính "đồng cảm", mặc dù cho rằng khâu phát triển nhân vật của cô còn thiếu sót. Rebecca Silverman của cùng trang web mô tả Lucy là "gần như gây khó chịu". Tuy nhiên, cây viết mô tả cuộc đối đầu của Lucy với một trong những đồng minh của Sát Long Nhân Laxus Dreyar là "hấp dẫn"; Silverman diễn giải chi tiết khía cạnh này bằng nhận định rằng trận chiến này "kết hợp giữa cảm xúc, trí tuệ và đối đầu không cân sức kiểu cũ để lôi kéo tối đa độc giả vào cốt truyện", đồng thời nói thêm rằng không có trận chiến lớn nào khác trong bộ truyện mang những yếu tố tương tự. Silverman viết thêm rằng Sát Long Nhân Wendy Marvell đảm nhận vai trò nữ chính của Lucy trong cốt truyện trong một khoảng thời gian hạn chế. Cây viết yêu thích "sự tái xác nhận liên kết của Lucy với các tinh linh của cô" và cho rằng vai trò của Lucy trong việc phối hợp với Natsu chống lại một thành viên của hắc hội Grimoire Heart là kỳ quặc nhưng quan trọng. A. E. Sparrow của "IGN" thì so sánh cách vẽ Lucy với cách vẽ hai nhân vật Nami và Vivi của mangaka Oda Eiichiro trong bộ truyện "One Piece". Cây viết thấy khả năng triệu hồi các tinh linh của Lucy là "tuyệt vời" và nghĩ rằng sẽ thật thú vị khi thấy cô liệu có thể thu thập được những chiếc chìa khóa nào khác trong tương lai. Dale North của "Japanator" thấy rằng Lucy có nhiều biểu cảm khuôn mặt đa dạng nhất trong số các nhân vật của "Fairy Tail" và miêu tả cô bé là "dễ thương". Richard Gutierrez của "The Fandom Post" lại nhận xét rằng Lucy đã trở nên mạnh mẽ hơn sau cuộc chiến của Fairy Tail chống lại hội Phantom Lord.
Các nhà báo cũng phân tích nhân vật Lucy dựa trên màn hóa thân cô trong bản chuyển thể hoạt hình của tác phẩm và cả những bộ phim điện ảnh. Trong bài đánh giá bộ anime, Carlo Santos của "ANN" dành lời khen vai Lucy của Cherami Leigh. Carl Kimlinger thì viết rằng "âm sắc u tối và cách truyền tải lúng túng" của Hirano Aya là "không hợp với Lucy vui vẻ", nhưng anh thích màn thể hiện Lucy của Leigh. Trong khi cây viết mô tả màn phối hợp của Lucy với Natsu và Happy là kỳ quặc, song anh cho rằng màn phối hợp hành động của họ là phần chính của "nhóm hành động" của cốt truyện. Crystalyn Hodgkins của "ANN" tin rằng Leigh là lựa chọn phù hợp với giọng của Lucy, nhận xét màn thể hiện của cô là "đầy nhiệt huyết". Rebecca Silverman xem mối quan hệ gia đình của Lucy là khía cạnh trung tâm trong tính cách của cô và cho rằng mối quan hệ giữa Lucy và cha cô trong anime được xử lý tốt hơn so với manga. Cây viết cho rằng việc giới thiệu bản thân Lucy ở tương lai là một phần quan trọng trong cốt truyện của cô. Silverman có nói rằng anime đã lỡ cơ hội khám phá sâu hơn về nhân vật Lucy trong tuyến truyện filler, nơi các tinh linh bắt đầu nổi loạn chống lại cô, mô tả việc chú trọng vào mối quan hệ của cô với tinh linh Xử Nữ là không cần thiết; cô còn bày tỏ sự thất vọng khi mà tương tác của Lucy với Loke và Aquarius (cả hai đều được Silverman xem là "không kém phần thiết yếu so với tính cách [của Lucy]") lại thể hiện tương đối kém. Matt Kamen của "Neo" ngưỡng mộ khả năng triệu hồi tinh linh của Lucy, còn Chris Beveridge của "The Fandom Post" coi Lucy là một trong những nhân vật yêu thích của anh trong "Fairy Tail". Kevin Leathers của "UK Anime Network" ví Lucy là "đại diện của người xem" và cho rằng đóng góp của cô cho bộ truyện là "tốt". Trong bài đánh giá , Kimlinger có nói rằng có "một chút u sầu" trong cốt truyện khi nó chú trọng vào Lucy; anh khen ngợi "cường độ cảm xúc" của Hirano trong phim và thấy rằng diễn xuất của Leigh nghe có vẻ "trẻ con khi lấy đem so sánh". Đánh giá về "Fairy Tail: Dragon Cry", Silverman cho biết Lucy bị gặp nạn vì cô thường xuyên bị bắt và dường như "bất lực", cô nhận thấy chi tiết này thật đáng thất vọng vì nó đã được thể hiện trong các tiểu phần truyện trước đó rằng Lucy có thể tự mình xử trí; tuy nhiên, cây viết rất thích cảnh Lucy bắt đầu mặc Tinh Phục, và cô mô tả nó là "được chế tác tuyệt đẹp".
Độ nổi tiếng và vật phẩm thương mại.
Trong một cuộc thăm dò về độ nổi tiếng ở số báo 26 của "Weekly Shōnen Magazine", Lucy xếp ngôi đầu với tổng cộng 8987 lượt bầu chọn. Những vật phẩm thương mại dựa trên Lucy đã được bày bán, kể cả action figure. Những huy hiệu lấy cảm hứng từ cô, cũng như những chiếc vòng cổ dựa trên cô đã được chế tác. |
Vụ bê bối visa Ba Lan
Vụ bê bối cấp visa () là một vụ bê bối chính trị đang diễn ra ở Ba Lan liên quan đến cáo buộc tham nhũng trong việc cấp thị thực bởi các quan chức của Bộ Ngoại giao và cơ quan lãnh sự Ba Lan. Phần lớn người nhận rời Ba Lan đến các quốc gia Khu vực Schengen khác hoặc Bắc Mỹ. Theo các nhà phê bình, có tới 350.000 thị thực có thể đã được cấp bất hợp pháp để nhận hối lộ.
Vụ bê bối này, được phát hiện thông qua báo cáo điều tra, bị cáo buộc liên quan đến việc những người di cư tiềm năng trả tiền cho một người trung gian và sau đó được cấp thị thực nhanh hơn bình thường và không cần kiểm tra đầy đủ. Vì Ba Lan là thành viên của Khu vực Schengen, người nhận thị thực Ba Lan có thể chuyển sang các nước thuộc Liên minh Châu Âu khác.
Lãnh sự quán Ba Lan được cho là đã nhận được từ Bộ Ngoại giao danh sách những cái tên sẽ được cấp thị thực nhập cảnh vào Ba Lan mà không cần kiểm tra thêm. Những người nhập cư có thị thực được cấp theo cách này trước tiên đến Ba Lan, sau đó đến Hoa Kỳ và các quốc gia khác thuộc phía bắc toàn cầu, đóng giả là các nhóm du lịch hoặc đoàn làm phim Bollywood. Theo báo cáo, mọi người đã trả tới 45.000 USD cho một thị thực Ba Lan và chuyển sang Hoa Kỳ.
Ban đầu các nhà thống kê đưa tin có tới 350.000 thị thực có thể đã được cấp bất hợp pháp để nhận hối lộ kể từ năm 2021, ở Ấn Độ, Philippines, Singapore, Hong Kong, Đài Loan, UAE, Qatar và những nơi khác. Dịch vụ thu tiền này được quảng cáo công khai trên các nền tảng truyền thông xã hội như TikTok.
Vào ngày 19 tháng 9 năm 2023, nghị sĩ đối lập Michał Szczerba của đảng Cương lĩnh Dân sự tiết lộ các tài liệu bị cáo buộc từ Bộ Ngoại giao cho thấy rằng đại sứ quán Ba Lan tại Minsk đã cấp 784.173 thị thực cho các cá nhân từ 65 quốc gia (bao gồm 1.481 thị thực được cấp cho những người đến từ các quốc gia khác ngoài Belarus, Nga và Ukraina) với sự hỗ trợ của một công ty có trụ sở tại Moskva. Szczerba còn tuyên bố thêm rằng những thị thực được cấp bao gồm những người trước đây đã bị đẩy lùi khỏi biên giới trong cuộc khủng hoảng biên giới Belarus-Liên minh Châu Âu.
Bảy người ban đầu bị buộc tội, trong đó ba người bị tạm giam giam giữ. Không ai trong số họ là quan chức nhà nước. Edgar K., một trong những trợ lý của cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao #đổi và là một trong những người chủ chốt trong kế hoạch, đã quyết định làm chứng chống lại đồng nghiệp của mình để được giảm án.
Vụ bê bối được các nhà khoa học chính trị cho là đã làm tổn hại đến cơ hội của đảng Luật pháp và Công lý cầm quyền trong cuộc bầu cử sắp tới, vì các đảng đối lập cho biết họ đã đồng lõa. Số phiếu bị mất đối với liên minh Cánh hữu Thống nhất thậm chí có thể được chuyển sang Liên minh cực hữu. Vụ bê bối cũng mâu thuẫn với luận điệu chống người nhập cư mạnh mẽ của đảng cầm quyền, thường xuyên tuyên bố rằng Ba Lan sẽ tràn ngập những người nhập cư bất hợp pháp nếu phe đối lập lên nắm quyền.
Các phương tiện truyền thông nhà nước Ba Lan (chẳng hạn như Telewizja Polska, Polskie Radio, phương tiện truyền thông in ấn thuộc sở hữu của Orlen), đã trở thành cơ quan ngôn luận trên thực tế của đảng cầm quyền (Luật pháp và Công lý) kể từ khi luật truyền thông gây tranh cãi được thông qua ngay sau khi họ nắm quyền, tập trung vào các vấn đề khác, chẳng hạn như sự gia tăng đột biến lượng người di cư đến đảo Lampedusa của Ý, hoặc tránh đưa tin hoàn toàn. |
Hòa thượng Thích Minh Nguyệt (19 tháng 12 năm 1907 - 18 tháng 1 năm 1985) là một vị Hòa thượng đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.
Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, thế danh là Lý Duy Kim, sinh ngày 19 tháng 12 năm 1907, trong một gia đình trung nông, tại xã Tân An, tỉnh Thủ Dầu Một (nay là Sông Bé).
Năm 1919, khi vừa đúng 13 tuổi, ông đến chùa Thiên Thai (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) xin xuất gia, tu học với Tổ Huệ Đăng, vốn là một Tăng sĩ tài ba, một nhà Nho uyên thâm có tinh thần yêu nước.
Trong thời gian tu học tại đây, ngoài những thời khóa, ông được gần gũi, hầu cận bên Tổ Huệ Đăng. Do đó, ông đã có được những cảm nghĩ ban đầu về tinh thần dân tộc khi được dự nghe những buổi tọa đàm giữa Tổ Huệ Đăng và cụ Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh). Ý thức cách mạng nảy nở trong lòng và ông luôn luôn trăn trở về điều ấy.
Năm 1938, ý chí nâng cao tri kiến bằng cách đem đạo Phật vào cuộc đời và tinh thần yêu nước thôi thúc, ông xin phép Bổn sư để vân du tham học khắp nơi, vừa mở mang trí tuệ, vừa thâm nhập thực tại hoàn cảnh đất nước ở nhiều khía cạnh. Bước chân ông đã nhiều lần đến các chùa, như: Phật Bổn (Cần Thơ), Bửu Long (Mỹ Tho), Long An (Thành phố Hồ Chí Minh), Vĩnh Tràng (Tiền Giang), Ô Môi (Vĩnh Long), Thiên A, những bước chân giáo hóa nhân dân, để lại trong lòng Tăng, Ni, Phật tử mọi nơi hình ảnh tốt đẹp về hạnh nguyện của ông.
Hoạt động cách mạng.
Năm 1940, cùng với cao trào chấn hưng Phật giáo, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã nổ ra. Trách nhiệm đạo - đời, ông vẫn hàng ngày nhắc nhở mình phải chu toàn. Trong bối cảnh phong trào chấn hưng Phật giáo, khi suy lúc thịnh, do nhiều yếu tố thời cuộc chi phối, đặc biệt là bàn tay phá rối từ phía thực dân và những người theo thực dân và trước nạn đồng bào bị áp bức, bóc lột, tàn sát, lòng yêu nước của ông càng được nung nấu thêm. Đến khi hay tin Hòa thượng Trí Thiền (chùa Tam Bảo, Rạch Giá) bị bắt và lưu đày ở Côn Đảo, ông đã chuyển lòng yêu nước của mình thành hành động tích cực.
Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, cũng là lúc bề dày hoạt động của ông đã đủ chứng minh cho lòng yêu nước nồng nàn ấy. Ông hoạt động khi chìm khi nổi, ẩn hiện khắp mọi nơi với bí danh Tam Không. Liên tục sau đó, ông được mọi người tín nhiệm bầu vào các chức vụ, như: Hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ, Hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Mỹ Tho, Hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc khu Sài Gòn - Gia Định, Ủy viên Mặt trận tỉnh Mỹ Tho, Ủy viên khu Sài Gòn - Gia Định và kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ.
Là một công dân yêu nước nồng nàn, đồng thời là một Tăng sĩ vốn đã được trang bị tinh thần bi, trí, dũng của chốn thiền môn nên hoạt động chống thực dân và phát triển Hội Phật giáo Cứu quốc đều được ông tiến hành song song ở từng địa bàn, nhất là chùa Ô Môi (Đồng Tháp Mười) - nơi đặt trụ sở của Hội Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ. Bất chấp mọi gian nguy, ông đã đi khắp nơi vận động và đấu tranh ngay trong vùng thực dân kiểm soát. Và trong nội thành Sài Gòn cũng không thiếu dấu chân ông.
Năm 1954, sau Hiệp định Genève, ông ở lại miền Nam hoạt động cùng các vị khác. Ông vận động được rất nhiều tự viện làm cơ sở giúp đỡ che giấu cán bộ hoạt động cách mạng ngay trong vùng bị kiểm soát. Lúc này, ông là vị tiêu biểu cho lực lượng Tăng sĩ hoạt động yêu nước, vì thế, chính quyền Ngô Đình Diệm chú ý và theo dõi rất gắt gao từng bước đi của ông. Một mặt, chúng ra sức dùng mọi thủ đoạn hòng mua chuộc, lôi kéo ông, thậm chí tạo cơ hội cho ông lãnh đạo một tổ chức Phật giáo hữu danh vô thực, có sự bảo hộ, tài trợ từ phía chính quyề, vẫn tiếp tục con đường cách mạng đã đi. Trong thời gian hoạt động bí mật, ông từng chủ trương xuất bản nguyệt san "Tinh Tấn" (1947) và tập san "Tổ Quốc" (1956).
Ngày 6 tháng 4 năm 1960, một cơ sở bị lộ. Tất cả cán bộ cốt cán bị bắt, trong đó có ông. Nhân cơ hội này, chính quyền không ngớt rêu rao về tội danh "phản nghịch" của ông, hòng làm lung lạc những người yêu nước khác. Và để tăng thêm sức mạnh cho mục đích đó, ông bị đày ra Côn Đảo với mức án là 20 năm tù khổ sai.
Năm 1974, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ông được trao trả về vùng giải phóng Lộc Ninh. Như vậy, ông đã bị lưu đày khổ sai nơi Côn Đảo hơn 15 năm.
Khi được tự do, ông liên lạc với các vị giáo phẩm lãnh đạo khác trong các tỉnh phía Nam, để chuẩn bị cho lực lượng Phật giáo tham gia nổi dậy cùng các mũi tiến công của Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông gặp lại các vị lãnh đạo Phật giáo sau nhiều năm xa cách. Bằng khả năng và uy tín của mình trước tình hình mới của đất nước, ông đảm đương các chức vụ, như: Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra, ông còn làm Chủ tịch Ủy ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh, với nhiệm vụ liên lạc Tăng, Ni, Phật tử đoàn kết, xây dựng tổ quốc trong giai đoạn mới.
Để hậu thuẫn cho mục đích này, ông lãnh chức Chủ nhiệm Báo Giác Ngộ, tờ báo Phật giáo đầu tiên tại các tỉnh phía Nam sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất. Và để thắt chặt thêm tình hữu nghị, ông đã cùng Hòa thượng Trí Thủ, Hòa thượng Minh Châ(Liên Xô), tham quan Phật giáo Liên Xô ở vùng Bu-ri-át, Hội nghị Tổ chức Phật tử châu Á vì hòa bình tại Mông Cổ. Trong dịp này, ông được tặng nhiều huân chương Hữu nghị.
Ban trù bị Đại hội Thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập, Ngài là Phó Ban vận động kiêm Trưởng ban Thông tin. Năm 1981, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc tổ chức ở Hà Nội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời với tầm vóc đại thể xuyên suốt, có hiến chương chặt chẽ. Ông được suy cử ngôi vị Phó Pháp chủ thường trực Hội đồng Chứng minh Trung ương.
Thời gian tiếp theo sau đó, ông về an trú và làm việc tại chùa Long Hoa (quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ông mất ngày 18 tháng 1 năm 1985 tại quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 77 tuổi. |
Ma đạo thư (tiếng Anh: grimoire) còn đường gọi là ma pháp thư, sách phép, sách ma thuật là cuốn sách giáo khoa về ma thuật, thường bao gồm các hướng dẫn thực hiện hoặc tạo ra các vật thể ma thuật như bùa hộ mệnh, cách thực hiện ma thuật, bùa chú, bói toán cũng như cách triệu hồi hoặc cầu khẩn các thực thể siêu nhiên như thiên sứ, tinh linh, ác quỷ và cả những vị thần.
Trong nhiều trường hợp, chính hững cuốn sách cũng có sức mạnh ma thuật. Nội dung duy nhất được tìm thấy trong một cuốn ma đạo thư sẽ là thông tin về bùa chú, nghi lễ, việc chuẩn bị các công cụ ma thuật, danh sách các thành phần và sự tương ứng ma thuật của chúng.
Ma đạo thư (魔導書) là từ Hán Việt, trong đó "ma đạo" (魔導) có nghĩa là dường đẫn đến ma thuật và "thư" (書) nghĩa là quyển sách, vậy ma đạo thư có nghĩa là "quyển sách dẫn đường đến ma thuật".
Trong tiếng Anh, nguồn gốc của từ grimoire không rõ ràng. Người ta cho rằng thuật ngữ "grimoire" có nguồn gốc từ từ tiếng Pháp cổ "grammaire," ban đầu được dùng để chỉ tất cả các cuốn sách viết bằng tiếng Latin. Đến thế kỷ 18, thuật ngữ này đã được sử dụng phổ biến ở Pháp và bắt đầu được sử dụng để chỉ những cuốn sách ma thuật. Vào thế kỷ 19, với sự quan tâm ngày càng tăng của người Anh đối với thuyết huyền bí sau khi cuốn sách "The Magus" của Francis Barrett được xuất bản, thuật ngữ này đã du nhập vào tiếng Anh để chỉ sách ma thuật. |
Loossemble (tiếng Hàn: ; Romaja: "#đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
"; thường viết cách điệu là LOOSSEMBLE) là một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc được thành lập bởi CTDEM. Nhóm bao gồm 5 thành viên: HyunJin, YeoJin, ViVi, Go Won, và HyeJu. Nhóm chính thức ra mắt vào ngày 15 tháng 9 năm 2023 với EP đầu tiên Loossemble với bài hát chủ đề "Sensitive".
Loossemble là sự kết hợp giữa 2 từ "Loona" và "assemble" (tập hợp), có ý nghĩa là "năm thành viên Loona đến với nhau là một".
2023–nay: Giới thiệu và ra mắt với "Loossemble".
Vào tháng 6 năm 2023, truyền thông đưa tin rằng 2 thành viên Loona HyunJin và ViVi đã ký hợp đồng với CTDENM sau khi chấm dứt hợp đồng với Blockberry Creative. YeoJin, Go Won, và HyeJu cũng đã ký hợp đồng với CTDENM vào ngày 5 tháng 7.
Vào ngàu 31 tháng 7, CTDENM thông báo rằng đội hình nhóm 5 thành viên Loona sẽ tái ra mắt với cái tên Loossemble với kế hoạch ra mắt một album. Ba ngày trước, họ đã thông báo rằng nhóm sẽ tham gia Lễ ra mắt Loona Assemble ở Hoa Kỳ bắt đầu từ ngày 15 tháng 9. Chuyến lưu diễn sẽ kết thúc vào "đêm cuối cùng" sau khi nhóm trở về Hàn Quốc. Vào ngày 23 tháng 8, họ thông báo rằng Loossemble sẽ ra mắt vào ngày 15 tháng 9 với đĩa đơn mở rộng cùng tên của nhóm.
commentĐổi hướng đến /comment |
Cú và những người bạn
Cú và những người bạn (Tiếng Anh: "The Owl Co"; Tiếng Pháp: "La Chouette et Cie") là một loạt phim hoạt hình CGI của Pháp do Studio Hari sản xuất chủ yếu dành cho trẻ em, dựa trên bộ phim ngắn The Owl.
Bộ phim kể về một con cú gắt gỏng màu hồng có hình dáng giống một nhân vật bằng nhựa. Cú sống trong một khu rừng có nhiều loài khác sinh sống, trong đó đáng chú ý nhất là bọ que thông minh, ếch hung hãn, dơi lôi cuốn và cừu đầu không. Giống như loạt phim ngắn gốc, Cú không quan tâm đến bất kỳ ai khác xung quanh mình, thay vào đó nó thà ăn một con sâu. Tuy nhiên, Cú thường không may mắn và gặp phải một số tình huống hài hước. Một điều thú vị ở cuối mỗi tập phim là lúc Cú bị tách thành nhiều mảnh hay bị biến dạng một cách hài hước, kèm một giai điệu ngắn bằng đàn băng cầm.
"Cú và nhũng người bạn" ra mắt lần đầu tiên tại Pháp trên France 3 vào năm 2013. Bộ phim ra mắt lần đầu bằng tiếng Anh trên Boomerang UK vào ngày 2 tháng 5 năm 2015. Phim kết thúc vào ngày 5 tháng 11 năm 2016.
Bản lồng tiếng Anh của loạt phim cũng được phát sóng quốc tế trong một khoảng thời gian, một trong số đó là Disney Channel Asia. Phim cũng được ra mắt ở Ấn Độ trên Sony YAY! vào ngày 19 tháng 9 năm 2022 với tên gọi khác là "Dhakki Chiki Aaool! " |
Mazoku hay Ma tộc ( (ma tộc)/ , Ma tộc) là một chủng tộc trong thần thoại, giả tưởng của Nhật Bản, là những sinh vật siêu nhiên tà ác, mạnh mẽ như loài quỷ và ác ma của phương tây. Ma vương (Maou, Ma vương) là kẻ cai trị của Ma tộc, hoặc một chúa tể hắc ám, môt quái vật mạnh mẽ trong những cuốn tiểu thuyết. Thuật ngữ này dần lan rộng ra các quốc gia lân cận và trở nên rất phổ biến trong các tác phẩm huyền huyễn của Trung Quốc.
Ma (Ma, Ma) ám chỉ ác ma, là hiện thân của cái ác đe dọa sự tồn tại của con người hoặc là thách thức các vị thần, trong khi Tộc (Zoku, Tộc) trong chủng tộc, bộ tộc, gia tộc, ám chỉ chúng là một gia đình. Ma vương (Maou, Ma vương) là một thuật ngữ bắt nguồn từ Ma tộc, Vương (Ou, Vương) là vị vua, ma vương nghĩa là vua của ma tộc.
Lưu ý, từ Ma (ma, Ma) trong tiếng Nhật có nghĩa khác hoàn toàn với hồn ma và quỷ. Trong tiếng Nhật, hồn ma được gọi là U linh (Yūrei, U linh), còn quỷ được gọi là Ác quỷ (Akki, Ác quỷ) hoặc đơn giản là Quỷ (Oni, Quỷ). Vì trong tiếng Việt không có từ ngữ tương đương để phân biệt, nên trong nhiều trường hợp Ma vương (Maou, Ma vương) bị dịch sai thành Quỷ vương, lỗi sai này thường đến từ việc người dịch lấy nguồn từ các ngôn ngữ trung gian.
Trong thần thoại và truyền thuyết.
Thuật ngữ "ma tộc" được sử dụng để mô tả ashura và yaksha trong thần thoại Ấn Độ, cũng như daeva của Hỏa giáo. Đó là một thuật ngữ chung cho quỷ, ác ma và những sinh vật xấu xa. Trong đa thần giáo của Nhật Bản, Ma tộc là từ trái nghĩa của Thần tộc (Shinzoku, Thần tộc), tức chủng tộc thần thánh.
Ma vương là một vị vua hoặc người cai trị ma tộc. Ví dụ, trong bản dịch Kinh thánh trong tiếng Nhật, Satan là ma vương. Trong đa thần giáo, đối trọng của Ma vương là Thần vương (Shin'ou, Thần vương), tức vua của thần tộc.
Lãnh chúa phong kiến Nhật Bản, Oda Nobunaga cũng tự gọi mình là Ma vương trong một bức thư gửi Takeda Shingen, Oda ký tên là Đệ Lục Thiên Ma Vương (第六天魔王, Đệ Lục Thiên Ma Vương #đổi : "ma vương cõi trời thứ sáu"), đây cũng là danh xưng của Thiên ma Ba tuần, kẻ cũng được gọi là ma vương trong Phật giáo.
Trong thể loại giả tưởng của Nhật Bản, ý nghĩa của "ma tộc" khác nhau tùy theo từng công việc. Một số tác phẩm dùng thuật ngữ này để chỉ tất cả những sinh vật xấu xa là kẻ thù của con người và các sinh vật tốt, trong khi những tác phẩm khác lại dùng nó để chỉ một nhóm sinh vật nhất định. Thuật ngữ Ác ma tộc (Akuma zoku, Ác ma tộc) có thể được sử dụng để chỉ cụ thể là ma tộc độc ác, một thuật ngữ nữa là Ma nhân (Majin, Ma nhân) cũng chỉ những con người mang sức mạnh của ma tộc, những kẻ nhập ma hoặc chỉ những ma tộc có vẻ ngoài giống con người.
Ma vương có thể là vua của ma tộc, hay nói chung hơn là vua của ma quỷ, quân chủ, chúa tể bóng tối, là trùm trong các trò chơi điện tử và là kẻ thù không đội trời chung của dũng sĩ. Thuật ngữ này không dành riêng cho giới tính. Ví dụ: "Erlkönig" của Johann Wolfgang von Goethe, bản dịch phổ biến là "Elf King" trong tiếng Anh, nhưng được dịch là "Ma vương" trong tiếng Nhật. Thuật ngữ Đại ma vương (Daimaou, Đại ma vương) đôi khi được dùng để mô tả một ma vương có cấp bậc rất cao hoặc mạnh mẽ. Một ví dụ là Đại ma vương Piccolo, một nhân vật phản diện trong manga "Dragon Ball".
Thuật ngữ Ma tộc (tiếng Trung: 魔族, bính âm: "Mózú") cũng trở nên phổ biến trong các tác phẩm kỳ ảo hiện đại của Trung Quốc, được coi là một chủng tộc tà ác, mạnh mẽ, người thống trị tối cao của ma tộc là Ma vương (魔王 "Mówáng").
Ma tộc thường được coi là sự đối lập với Tiên tộc (tiếng Trung: 仙族, bính âm: "Xiānzú") và là mối nguy hiểm to lớn nhất của Nhân tộc (人族 "Rénzú"). |
Đền Hiếu đạo hay Đền Piety () là một ngôi đền La Mã dành riêng cho nữ thần Pietas, một vị thần nhân cách hóa của lòng hiếu thảo. Đền được xây dựng vào năm 181 trước Công nguyên ở phía bắc của Diễn đàn Olitorium, chợ rau của La Mã, và bị phá hủy vào năm 44 trước Công nguyên để nhường chỗ cho tòa nhà cuối cùng được gọi là Nhà hát Marcellus. Có vẻ như nó đã được xây dựng lại và các dịch vụ của nó tiếp tục được duy trì trong thời kỳ đế chế, mặc dù điều này vẫn còn gây tranh cãi bởi một số học giả.
Việc xây dựng đền thờ được vị chấp chính quan và là người mới của giới bình dân Manius Acilius Glabrio thề nguyện long trọng tại Trận chiến Thermopylae vào năm 191 trước Công nguyên, nơi quân đoàn của ông đã đánh bại Antiochos III Đại đế trong cuộc chiến tranh La Mã-Seleucid. Lý do cho việc cúng hiến này không rõ trong các nguồn tư liệu còn sót lại, mặc dù một số học giả hiện đại đã gợi ý rằng ông đã được truyền cảm hứng bởi một hành động hiếu nghĩa trong trận chiến, có thể là của chính con trai ông.
Acilius Glabrio bắt đầu xây dựng Đền Hiếu đạo nhưng đã bị mất danh dự trong một cuộc bầu cử "censor" (quan kiểm tra) tranh chấp - ông rút khỏi cuộc bầu cử sau khi đối thủ của mình là Marcus Porcius Cato cáo buộc một cách thuyết phục rằng ông đã biển thủ tiền cướp được từ chiến dịch ở Hy Lạp của mình—và không bao giờ giữ chức vụ cao cấp nào nữa. Đền Hiếu đạo được hoàn thành và khánh thành vào năm 181 trước Công nguyên bởi con trai của Glabrio, người cũng có tên là Manius Acilius Glabrio. Con trai của Glabrio được bổ nhiệm làm duumvir để giám sát việc xây dựng đền thờ. Đền Hiếu đạo nằm ở phía tây bắc của Diễn đàn Olitorium, chợ rau của La Mã, gần Cổng Carmental ở phía tây của Đồi Capitoline. Đền thờ có một bức tượng bằng vàng của chấp chính quan Glabrio, là bức tượng vàng đầu tiên của một công dân La Mã trong thành phố.
Đền Hiếu đạo đã trở nên gắn liền với một truyền thuyết Hy Lạp về một người con gái đã cho cha hoặc mẹ bị giam cầm bú sữa, có lẽ là do sự hiện diện của Columna Lactaria trong diễn đàn. "Cột cho con bú" này là nơi mà trẻ sơ sinh nghèo có thể được cho uống sữa cho đến khi cai sữa; nó có thể đã truyền cảm hứng cho việc đặt ngôi đền hoặc ngôi đền có thể được xây dựng trên hoặc gần vị trí của một nhà tù cũ. Một phiên bản riêng biệt của câu chuyện kể rằng ngôi đền được xây dựng trên ngôi nhà cũ của gia đình, nơi được cho là đã được duy trì bằng chi phí của nhà nước sau sự kiện. Câu chuyện sau đó đã trở thành một chủ đề phổ biến trong hội họa Tây Âu vào đầu thời kỳ hiện đại, đặc biệt là thời kỳ Baroque. Đền thờ cũng đôi khi được liên kết với lòng hiếu thảo của Gaius Flaminius đối với cha mình, người đã kéo ông khỏi rostra mặc dù các quan tòa bình dân không thể xâm phạm được.
Đền Hiếu đạo dường như là ngôi đền "trong Circus Flaminius" bị sét đánh và hư hỏng nặng vào năm 91 hoặc 90 trước Công nguyên, mặc dù một số học giả vẫn tranh cãi về điểm này. Khi Julius Caesar trở thành nhà độc tài suốt đời, ông đã lên kế hoạch xây dựng một nhà hát lớn hơn nhà hát của Pompey trong khu vực và phá hủy khu phố phía tây bắc của Diễn đàn Olitorium - bao gồm cả Đền Hiếu đạo - để tạo chỗ vào năm 44 trước Công nguyên. Cháu trai và con nuôi của ông là Augustus sau đó đã hoàn thành việc xây dựng nhà hát này với tên gọi Nhà hát Marcellus.
Đền Hiếu đạo đã được di dời hoặc xây dựng lại hoàn toàn, tuy nhiên, vì các lễ hội của nó ở Diễn đàn Olitorium vẫn tiếp tục được tổ chức cho đến tận thời kỳ đế chế, khi đó nó là một phần của Khu vực IX của thành phố. Bản đồ thành phố La Mã thời Septimius Severus chi tiết vào đầu thế kỷ thứ 3 và bản sửa đổi hiện đại của Rodolfo Lanciani đặt ngôi đền được xây dựng lại này ở phía tây của diễn đàn giữa Đền Hy vọng và Đền Juno Sospita. Các học giả khác - không chú ý đến sự tồn tại liên tục của đền thờ - biến ngôi đền lớn ở giữa thành Đền Juno Sospita, di chuyển đền thờ Hy vọng về phía nam của nó và biến ngôi đền phía bắc thành Đền Janus. |
Nabil Boutros Choueiri (tiếng Ả Rập: نبيل بطرس شويري; sinh năm 1950) là một vận động viên Điền kinh người Liban giải nghệ. Ông là người đã nắm giữ kỷ lục của Liban trong suốt hơn 20 năm với các nội dung chạy 1 dặm, 2 dặm, 3000 mét và chạy vượt rào 3000 mét.
Trên đấu trường quốc tế, ông đã tham dự Thế vận hội Mùa hè 1980 (thi nội dung chạy marathon) và tham dự Giải vô địch Chạy Việt dã thế giới lần lượt vào các năm 1979, 1981 và 1982. Ông cũng là thành viên của đoàn Thể thao Liban tham dự Đại hội Thể thao Địa Trung Hải 1979. |
Bóng đá tại Thế vận hội Mùa hè 2004 – Vòng loại nam khu vực châu Á
Vòng loại cho môn bóng đá nam tại Thế vận hội Mùa hè 2004 của Liên đoàn bóng đá châu Á được tổ chức từ ngày 5 tháng 4 năm 2003 đến ngày 12 tháng 5 năm 2004. Ba mươi sáu đội đã tham dự vòng loại để cạnh tranh cho ba suất thi đấu tại Thế vận hội Mùa hè 2004 ở Athens.
Hàn Quốc, Nhật Bản và Iraq là ba đội đã giành chiến thắng ở vòng cuối cùng và đủ điều kiện tham dự Thế vận hội.
Thể thức thi đấu.
Cấu trúc vòng loại như sau:
Hạt giống của các đội tham dự vòng loại bóng đá nam tại Thế vận hội Mùa hè 2004 khu vực châu Á được xác định dựa theo thành tích tại vòng chung kết và vòng loại khu vực châu Á của Thế vận hội Mùa hè 2000. Lễ bốc thăm cho vòng loại thứ nhất và thứ hai được tổ chức tại Kuala Lumpur, Malaysia vào ngày 9 tháng 12 năm 2002.
Kết quả chi tiết.
Turkmenistan thắng với tổng tỉ số 2–1.
Tổng tỷ số là 1–1; Liban thắng nhờ luật bàn thắng sân khách.
Singapore thắng với tổng tỷ số 5 – 3.
Iraq thắng với tổng tỷ số 4–2.
Oman thắng với tổng tỷ số 17–0.
Hồng Kông thắng với tổng tỷ số 3–0.
Myanmar thắng với tổng tỷ số 3–0.
Palestine thắng với tổng tỷ số 3–1.
Syria thắng với tổng tỷ số 8–1.
UAE thắng với tổng tỷ số 4–0.
Iran thắng do Maldives bỏ cuộc.
Kyrgyzstan thắng do Yemen bỏ cuộc.
Kết quả chi tiết.
Hàn Quốc thắng với tổng tỷ số 3–0.
Liban thắng với tổng tỷ số 5–2.
Ả Rập Xê Út thắng với tổng tỷ số 10–0.
Iraq thắng với tổng tỷ số 4–3.
Oman thắng với tổng tỷ số 2–1.
Bahrain thắng với tổng tỷ số 7–2.
Nhật Bản thắng với tổng tỷ số 8–0.
Kuwait thắng với tổng tỷ số 3–2.
Trung Quốc thắng với tổng tỷ số 4–3.
UAE thắng với tổng tỷ số 5–2.
Turkmenistan rút lui vì lo ngại dịch SARS. Malaysia mặc định giành quyền tham dự vòng loại cuối.
Vòng loại cuối cùng được tổ chức từ ngày 1 tháng 3 đến ngày 12 tháng 5 năm 2004. Chỉ có đội đứng đầu mỗi bảng sẽ đại diện cho châu Á tham dự Thế vận hội Mùa hè 2004. Vòng đấu này ban đầu được dự kiến tổ chức từ ngày 30 tháng 8 đến ngày 18 tháng 10 năm 2003, nhưng đã bị hoãn lại do ảnh hưởng của dịch SARS ở châu Á.
Lễ bốc thăm cho vòng loại cuối cùng được tổ chức tại Doha, Qatar vào ngày 18 tháng 10 năm 2003. Các đội lọt vào vòng loại cuối cùng được xếp hạt giống dựa trên thành tích của họ tại vòng chung kết và vòng loại khu vực châu Á của Thế vận hội Mùa hè 2000.
(*) Tại thời điểm bốc thăm, vẫn chưa xác định đội nào sẽ đi tiếp vào vòng loại cuối cùng vì trận đấu vòng 2 giữa CHDCND Triều Tiên và Iraq chưa được tổ chức.
Các đội vượt qua vòng loại.
Dưới đây là các đội tuyển đã vượt qua vòng loại để tham dự Thế vận hội Mùa hè 2004 tại Athens, Hy Lạp. |
Manolita Cinco Dopeno (sinh năm 1932) là một vận động viên chạy vượt rào người Philippines. Bà đã thi đấu trong cuộc thi chạy vượt rào 80 mét nữ tại Thế vận hội Mùa hè 1956. Bà là người phụ nữ đầu tiên đại diện cho Philippines tại Thế vận hội. Bà đã kết hôn với Alejo Dopeno. Sau này, bà được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú nhưng đã chiến thắng được bệnh tật. |
Ian Ethan Maatsen (sinh ngày 10 tháng 3 năm 2002) là cầu thủ bóng đá người Hà Lan có thể thi đấu ở vị trí hậu vệ cánh trái và tiền vệ cánh trái cho câu lạc bộ Chelsea tại Premier League.
Sự nghiệp câu lạc bộ.
Giai đoạn đầu sự nghiệp.
Maatsen từng là cầu thủ của học viện đào tạo trẻ câu lạc bộ Feyenoord từ năm 7 tuổi, nhưng sau đó đã bị loại khỏi học viện vì thể hình quá nhỏ. Sau đó anh lần lượt chuyển đến học viện của Sparta Rotterdam và PSV Eindhoven trước khi đến học viện của Chelsea vào năm 2018.
Ngày 25 tháng 9 năm 2019, Maatsen có trận đấu đầu tiên cho đội một Chelsea khi vào sân thay người trong trận thắng 7–1 tại Cúp EFL trước Grimsby Town.
Ngày 13 tháng 10 năm 2020, Maatsen được Chelsea đem cho Charlton Athletic mượn trong một mùa giải. Ngày 2 tháng 4 năm 2021, anh có bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp và đem về chiến thắng 1–0 trước Doncaster Rovers tại giải EFL League One.
Ngày 15 tháng 7 năm 2022, Maatsen chuyển đến Burnley theo hợp đồng cho mượn có thời hạn một năm. Tại EFL Championship 2022-23, anh có 4 bàn thắng và 6 pha kiến tạo sau 30 trận giúp Burnley đoạt chức vô địch Championship và trở lại Premier League mùa giải kế tiếp. |
Trong sinh học, đồng tiến hóa ("Coevolution") là một dạng tiến hóa xảy ra khi hai hoặc nhiều loài ảnh hưởng đến sự tiến hóa của nhau thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên. Thuật ngữ này đôi khi được sử dụng để chỉ đến các tác động về tiến hóa giữa hai đặc điểm trong cùng một loài.
Charles Darwin đã đề cập đến các tương tác về đồng tiến hóa giữa thực vật có hoa và côn trùng trong tác phẩm Nguồn gốc các loài (1859). Mặc dù ông không sử dụng từ "đồng tiến hóa", nhưng ông đã nêu ra cách thực vật và côn trùng có thể tiến hóa cùng nhau. Các nhà tự nhiên học vào cuối những năm 1800 đã nghiên cứu về các tương tác giữa các loài có thể dẫn đến đồng tiến hóa. Các ví dụ về đồng tiến hóa do con người tác động vào có thể được kể đến như các chương trình nhân giống được phát triển bởi các nhà nghiên cứu bệnh học thực vật vào những năm 1940. Việc phát triển các giống cây trồng mới có khả năng kháng một số bệnh đã tạo điều kiện cho các quần thể mầm bệnh có thể tiến hóa nhanh chóng để vượt qua các hệ thống phòng thủ của thực vật và nó khiến cho con người phải phát triển các giống cây trồng mới để chống lại mầm bệnh đã tiến hóa và do đó tạo ra một chu kỳ tiến hóa qua lại liên tục giữa cây trồng và mầm bệnh cho đến ngày nay.
Đồng tiến hóa như một chủ đề nghiên cứu chính về tự nhiên đã được mở rộng một cách nhanh chóng vào thập niên 1960 khi Daniel H. Janzen đã chỉ ra quan hệ đồng tiến hóa giữa cây keo và kiến và Paul R. Ehrlich và Peter H. Raven nêu ra cách đồng tiến hóa giữa thực vật và bướm có thể đã góp phần đến sự đa dạng loài ở cả hai bên. Nền tảng lý thuyết của đồng tiến hóa hiện đã được phát triển tốt và đã chứng minh rằng đồng tiến hóa có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các quá trình tiến hóa quan trọng như sự sinh sản hữu tính hoặc thay đổi trong thể bội. Gần đây hơn, người ta đã chứng minh rằng đồng tiến hóa có thể ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của các cộng đồng sinh thái, sự tiến hóa của các nhóm cộng sinh như thực vật và các loài thụ phấn và động lực của bệnh truyền nhiễm.
Mỗi bên trong quan hệ đồng tiến hóa sẽ gây ra áp lực chọn lọc cho bên kia, từ đó ảnh hưởng đến sự tiến hóa của nhau. Đồng tiến hóa bao gồm nhiều dạng cộng sinh, vật chủ-ký sinh và loài săn mồi-con mồi giữa các loài, cũng như sự cạnh tranh cùng loài hay cạnh tranh khác loài. Trong nhiều trường hợp, áp lực chọn lọc thúc đẩy một cuộc chạy đua tiến hóa giữa các loài với nhau. Đồng tiến hóa theo cặp giữa hai loài không phải là dạng duy nhất của đồng tiến hóa; trong quá trình đồng tiến hóa đa loài, đôi khi còn được gọi là đồng tiến hóa tập thể hoặc khuếch tán, một vài loài có thể tiến hóa một số tính trạng nhất định để có thể tương hỗ với các tính trạng ở các loài khác, như đã xảy ra giữa thực vật có hoa và côn trùng thụ phấn như như ong, ruồi và bọ cánh cứng. Có một loạt giả thuyết cụ thể về cơ chế mà các nhóm loài cùng tiến hóa với nhau Đồng tiến hóa chủ yếu là một khái niệm sinh học, nhưng các nhà nghiên cứu đã áp dụng nó bằng cách tương tự với các lĩnh vực khác như khoa học máy tính, xã hội học và thiên văn học.
Đôi khi các mối quan hệ đồng tiến hóa giữa hai hay nhiều loài có thể tạo ra các mối quan hệ cộng sinh với nhau, các mối quan hệ như vậy có thể có nhiều dạng khác nhau.
Thực vật có hoa.
Thực vật có hoa đã xuất hiện và đa dạng hóa đột ngột trong hồ sơ hóa thạch đến mức Charles Darwin đã gọi nó là "bí ẩn kỳ dị", ông cân nhắc liệu đồng tiến hóa có thể là lời giải hay không. Lần đầu tiên ông đề cập đến đồng tiến hóa là trong sách "Nguồn gốc các loài", và đã phát triển khái niệm này hơn nữa trong "Sự thụ tinh của hoa lan" (1862).
Côn trùng và hoa thụ phấn nhờ côn trùng.
Các loài hoa thụ phấn nhờ côn trùng hiện đại đã đồng tiến hóa cùng với các loài thụ phấn để quá trình thụ phấn của chúng được đảm bảo và phần thưởng cho các loài thụ phấn là mật hoa và phấn hoa. Hai nhóm này đã đồng tiến hóa trong hơn 100 triệu năm và đã tạo ra một mạng lưới tương tác phức tạp.
Các loài côn trùng đã thành công trong việc đồng tiến hóa với thực vật có hoa, đặc biệt là các loài trong Bộ cánh màng (ong bắp cày, ong và kiến) với Bộ cánh vẩy (bướm và bướm đêm) và nhiều loại ruồi và bọ cánh cứng vào Kỷ Phấn trắng (145-66 triệu năm trước). Những loài ong thụ phấn đầu tiên đã tồn tại vào đầu kỷ Phấn trắng khi một nhóm ong bắp cày và bộ Cánh vẩy đã đồng tiến hóa với thực vật có hoa. Hơn nữa, tất cả các nhánh ong chính đã xuất hiện vào giữa và cuối kỷ Phấn trắng cùng lúc với sự bức xạ thích nghi của thực vật hai lá mầm thật sự và vào thời điểm thực vật hạt kín trở thành thực vật thống trị thế giới trên đất liền.
Ít nhất có ba đặc điểm của hoa đã khiến cho quá trình đồng tiến hóa giữa thực vật có hoa và côn trùng xảy ra bởi vì chúng liên quan đến sự giao tiếp giữa các nhóm sinh vật đó. Thứ nhất là khả năng giao tiếp bằng mùi hương, côn trùng thường sử dụng mùi hương để xác định khoảng cách của một bông hoa và tiếp cận nó, xác định nơi hạ cánh và cuối cùng là thu thập mật hoa. Thứ hai, hoa thu hút côn trùng dẫn đến nơi có hoa văn sọc chứa mật hoa và phấn hoa với các màu sắc mà chúng nhạy cảm như xanh lam và tia cực tím, còn đối với hoa thụ phấn nhờ chim thì sẽ có xu hướng mang màu đỏ và cam. Thứ ba, đối với một số loài hoa, chẳng hạn như một số loài phong lan thì sẽ bắt chước con cái của một số loài côn trùng cụ thể để đánh lừa con đực trong quá trình giao phối giả.
Loài "Yucca whipplei" chỉ được thụ phấn duy nhất bởi loài "Tegeticula maculata", một loài bướm đêm phụ thuộc vào Yucca để sinh tồn. Loài bướm đêm này thường ăn hạt của cây và đồng thời thu thập phấn hoa. Phấn hoa của chúng đã tiến hóa để trở nên dinh dính và đọng lại trên các bộ phận của miệng khi bướm đêm di chuyển sang bông hoa khác và Yucca cũng cung cấp một nơi để bướm đêm đẻ trứng nằm sâu bên trong những bông hoa để tránh những kẻ săn mồi tiềm ẩn.
Chim và hoa thụ phấn nhờ chim.
Chim ruồi và các loài thụ phấn nhờ chim đã phát triển một mối quan hệ cộng sinh với nhau. Những bông hoa có mật hoa phù hợp với chế độ ăn của chim, màu sắc của chúng phù hợp với tầm nhìn của chim và hình dạng của chúng phù hợp với mỏ chim. Thời gian nở hoa của loài thụ phấn nhờ chim cũng khớp với mùa sinh sản của chim ruồi. Những đặc điểm về hoa của loài thụ phấn nhờ chim rất khác so với các loài thụ phấn nhờ côn trùng. Các loài hoa thụ phấn nhờ chim thường có xu hướng phức tạp, sặc sỡ và lộng lẫy hơn so với hoa thụ phấn nhờ côn trùng. Theo lẽ thường thì các loài hoa đã cộng sinh với côn trùng trước sau đó một số loài hoa đã chuyển sang cộng sinh với chim và không có nhiều bằng chứng khoa học ủng hộ cho các trường hợp ngược lại. Sự đa dạng về kiểu hình hoa ở các loài thụ phấn nhờ chim và tính nhất quán tương đối quan sát được ở các loài thụ phấn nhờ ong có thể là do sự ưa thích của loài thụ phấn.
Các loài hoa thường cạnh tranh với nhau để thụ phấn và sự thích nghi làm giảm tác động bất lợi của sự cạnh tranh này. Việc các loài chim có thể bay trong thời tiết khắc nghiệt khiến chúng thụ phấn hiệu quả hơn ong và các loài côn trùng khác vốn không thể ra ngoài với thời tiết khắc nghiệt như vậy, các loài hoa thụ phấn nhờ chim có thể đã xuất hiện vì lý do này trong những khu vực cô lập có ít tập đoàn côn trùng hoặc có cây ra hoa vào mùa đông. Các loài hoa thụ phấn nhờ chim thường có mật hoa và đường cao hơn so với hoa thụ phấn nhờ côn trùng và điều này đáp ứng được nhu cầu năng lượng cao của chim vốn là yếu tố quan trọng nhất trong việc lựa chọn hoa.
Những bông hoa thụ phấn nhờ chim thường hội tụ về một hình thái và màu sắc chung vì chúng có thể thu hút các loài chim. Chiều dài và độ cong khác nhau của cánh hoa có thể làm ảnh hưởng đến hiệu quả chiết xuất ở các loài chim ruồi có sự khác biệt về hình thái mỏ. Những bông hoa hình ống buộc chim phải định hướng mỏ của nó theo một cách cụ thể khi thăm dò hoa, đặc biệt là khi mỏ và tràng hoa đều cong thì điều này cho phép cây đặt phấn hoa lên một bộ phận nhất định trên cơ thể chim và cho phép có nhiều sự thích nghi về hình thái hơn.
Các loài hoa thụ phấn nhờ chim cần phải dễ thấy và gây chú ý đối với chim. Chim có độ nhạy quang phổ lớn nhất và thường phân biệt màu sắc tốt nhất ở đầu màu đỏ của quang phổ thị giác nên màu đỏ đặc biệt dễ thấy đối với chúng. Chim ruồi cũng có thể nhìn thấy tia cực tím. Sự phổ biến của tia cực tím và đường dẫn mật hoa ở các loài hoa thụ phấn nhờ côn trùng có ít mật hoa cảnh báo chim nên tránh những bông hoa này. Mỗi phân họ trong số hai họ chim ruồi, Phaethornithinae và Trochilinae đều đã tiến hóa cùng với một nhóm hoa cụ thể. Hầu hết các loài Phaethornithinae đều đồng tiến hóa với các loài thực vật một lá mầm thân thảo lớn, trong khi các loài Trochilinae lại ưa các loài thực vật hai lá mầm.
Chi Sung và Ong bắp cày sung.
Chi "Ficus" bao gồm khoảng 800 loài dây leo, cây bụi, cây gỗ và các giống nhân tạo, được xác định bởi syconia của chúng, các mạch giống quả sẽ giữ hoa cái hoặc phấn hoa ở bên trong. Mỗi loài sung thường sẽ có ong bắp cày riêng để thụ phấn cho quả sung trong hầu hết các trường hợp và do đó sự phụ thuộc lẫn nhau đã phát triển và tồn tại trong toàn bộ chi.
Chi Keo và kiến keo.
Kiến keo ("Pseudomyrmex ferruginea") là loài kiến bảo vệ ít nhất năm loài "keo" ("Vachellia)" khỏi các loài côn trùng săn mồi và các loài thực vật cạnh tranh ánh sáng mặt trời khác. Đổi lại, cây sẽ cung cấp dinh dưỡng và nơi trú ẩn cho kiến keo và ấu trùng của nó. Sự cộng sinh như vậy không tự nhiên được hình thành mà là vì các loài kiến khác chỉ lợi dụng cây chứ không hợp tác với cây và tuân theo các chiến lược tiến hóa khác nhau. Những con kiến này gây ra tổn hại nghiêm trọng cho cây khi chúng phá hủy các cơ quan sinh sản của cây, mặc dù tác động thực sự của chúng đối với cây không hẳn là tiêu cực và do đó trở nên khó dự đoán.
Vật chủ và ký sinh.
Ký sinh trùng và vật chủ sinh sản hữu tính.
Quan hệ đồng tiến hóa vật chủ-ký sinh là quan hệ đồng tiến hóa giữa vật chủ và ký sinh trùng. Đặc điểm chung của nhiều loại virus vốn là ký sinh bắt buộc đã đồng tiến hóa cùng với một vật chủ tương ứng. Các đột biến tương quan giữa vật chủ và ký sinh trùng có thể khiến cho hai bên tiến hóa đối kháng lại với nhau. Bất kỳ sinh vật nào, dù là vật chủ hay ký sinh trùng nếu không thể theo kịp với các sinh vật khác thì chúng sẽ bị loại khỏi môi trường sống của chúng vì loài có quần thể trung bình cao hơn sẽ tồn tại. Cuộc chạy đua tiến hóa này được gọi là giả thuyết Hoàng hậu Đỏ. Giả thuyết Hoàng hậu Đỏ cho rằng sự sinh sản hữu tính cho phép vật chủ đi trước ký sinh trùng của nó, tương tự như giả thuyết Nữ hoàng Đỏ trong cuốn "Through the Looking-Glass": "bạn phải chạy nhanh nhất có thể để giữ nguyên vị trí". Vật chủ sinh sản hữu tính tạo ra một số cá thể có khả năng miễn dịch với ký sinh trùng của nó và sau đó chúng sẽ tiến hóa để đáp ứng lại.
Quan hệ vật chủ-ký sinh có thể đã ủng hộ cho sự sinh sản hữu tính thay vì sinh sản vô tính vì khi các ký sinh trùng lây nhiễm vào vật chủ thì sự sinh sản hữu tính đã cho phép các thế hệ sau có cơ hội để có hệ miễn dịch tốt hơn và ngăn chặn được những ký sinh trùng cũ. Đối với sinh sản vô tính thì các thế hệ khác nhau vẫn có thể bị bệnh từ cùng một ký sinh trùng. Có thể quá trình đồng tiến hóa giữa vật chủ và ký sinh trùng đã tạo ra phần lớn sự đa dạng di truyền được thấy ở quần thể bình thường.
Ký sinh nuôi dưỡng.
Ký sinh nuôi dưỡng chứng tỏ sự đồng tiến hóa chặt chẽ giữa vật chủ và ký sinh. Ví dụ như ở một số loài cu cu thì chúng sẽ không làm tổ mà sẽ đẻ trứng vào tổ của loài khác và đẩy hoặc giết trứng với con non của vật chủ và điều này đã tạo ra bất lợi cho sự sinh sản của vật chủ. Trứng của chúng được ngụy trang thành trứng của vật chủ, ngụ ý rằng vật chủ có thể phân biệt trứng của mình với trứng của ký sinh trùng và đang trong một cuộc chạy đua tiến hóa với chim cu cu giữa ngụy trang và nhận biết. Chim cu cu có khả năng thích nghi ngược với khả năng phòng vệ của vật chủ bằng các đặc điểm như vỏ trứng dày, thời gian ấp ngắn hơn và lưng phẳng để nhấc trứng khác ra khỏi tổ.
Đồng tiến hóa đối kháng.
Đồng tiến hóa đối kháng đã được biết đến ở loài kiến "Pogonomyrmex barbatus" và "Pogonomyrmex rugosus." Trong mối quan hệ vừa ký sinh và vừa cộng sinh thì kiến chúa không thể sinh sản ra kiến thợ bằng cách giao phối với đồng loại mà chỉ có thể lai tạo với loài kia để có kiến thợ. Những con kiến chúa có thể đóng vai trò là ký sinh trùng cho con đực của loài kia vì tinh trùng của chúng sẽ chỉ tạo ra những con lai vô sinh. Nhưng vì các tổ kiến hoàn toàn phụ thuộc vào những con lai này để tồn tại nên nó cũng mang tính cộng sinh. Mặc dù không có sự trao đổi di truyền giữa các loài, nhưng chúng không thể tiến hóa quá khác biệt vì điều này sẽ khiến cho chúng không thể lai tạo.
Động vật săn mồi và con mồi.
Động vật săn mồi thường sẽ tìm cách săn mồi hiệu quả hơn và con mồi thì sẽ tìm cách chạy trốn hiệu quả hơn và việc này tạo ra áp lực chọn lọc cho cả hai bên. Thường thì điều này sẽ tạo ra cuộc chạy đua tiến hóa cho cả hai bên. Điều tương tự cũng có thể được áp dụng cho động vật ăn cỏ và thực vật.
Ở dãy núi Rocky, sóc đỏ và chim mỏ chéo (chim ăn hạt) thường tranh giành hạt của cây thông. Những con sóc lấy hạt của cây thông bằng cách gặm qua các vảy hình nón trong khi chim mỏ chéo sẽ lấy hạt bằng những chiếc hàm bắt chéo của chúng. Ở những khu vực có sóc, nón của cây thông thường nặng hơn, có ít hạt hơn và vảy mỏng hơn để khiến sóc khó lấy hạt hơn. Ngược lại, ở những nơi có chim mỏ chéo nhưng không có sóc thì các nón có sẽ nhẹ hơn nhưng vảy lại dày hơn khiến cho chim mỏ chéo khó lấy hạt hơn. Các tế bào hình nón của cây thông đang trong cuộc chạy đua tiến hóa với hai loài động vật ăn cỏ.
Sinh vật cạnh tranh.
Thường thì cả cạnh tranh cùng loài như xung đột tình dục và chọn lọc giới tính, và cạnh tranh khác loài như giữa các loài săn mồi có thể thúc đẩy sự đồng tiến hóa với nhau. Cạnh tranh cùng loài có thể dẫn đến mối quan hệ tiến hóa như chạy đua tiến hóa được gọi là đồng tiến hóa đối kháng giới tính. Trong đồng tiến hóa đối kháng giới tính, hai giới tính trong cùng một loài sẽ phản kháng với nhau để có thể sinh sản một cách tối đa. Ví dụ như ở một số loài côn trùng thì chúng sẽ sinh sản bằng cách thụ tinh sau chấn thương, điều này sẽ gây bất lợi cho sức khỏe của con cái. Trong quá trình giao phối, con đực sẽ cố gắng tối đa hóa thể lực của mình bằng cách thụ tinh cho càng nhiều con cái càng tốt, nhưng bụng của con cái càng bị thủng nhiều lần thì khả năng sống sót của nó càng ít, do đó khả năng sống sót của nó bị giảm sút.
Đồng tiến hóa đa loài.
Các dạng đồng tiến hóa đã biết cho đến nay được mô tả như thể rằng chúng hoạt động theo cặp, trong đó các đặc điểm của một loài đã tiến hóa để đáp ứng trực tiếp với các đặc điểm của loài kia và ngược lại. Thực tế thì không phải quan hệ đồng tiến hóa nào cũng như vậy, có một dạng đồng tiến hóa mà trong đó một nhóm loài có một số đặc điểm nhất định và nó đồng tiến hóa cùng với một nhóm loài khác và nó không hoạt động theo cặp, dạng đồng tiến hóa này có thể được gọi với nhiều tên khác nhau như đồng tiến hóa khuếch tá, thực vật có hoa được thụ phấn bởi côn trùng thuộc các họ khác nhau bao gồm ong, ruồi và bọ cánh cứng, tất cả đều tạo thành một nhóm lớn bao gồm các loài thụ phấn phản ứng với mật hoa hoặc phấn hoa do hoa tạo ra. |
là một trong những đức tính cao quý nhất của người La Mã cổ đại. Đó là đức tính nổi bật của người anh hùng sáng lập Aeneas, người thường được gọi là "pius" ("sùng đạo") trong suốt sử thi Aeneid của Virgil. Bản chất thiêng liêng của "pietas" được thể hiện bởi nhân cách hóa thiêng liêng Pietas, một nữ thần thường được hình dung trên đồng tiền La Mã. Từ tương đương trong tiếng Hy Lạp là ().(tr864–865)
Cicero định nghĩa "pietas" là đức tính "khuyến khích chúng ta làm tròn nghĩa vụ của mình đối với đất nước, cha mẹ hoặc những người thân khác." Người sở hữu "pietas" "thực hiện tất cả các nghĩa vụ của mình đối với thần linh và đồng loại một cách đầy đủ và mọi mặt," như nhà học giả cổ điển thế kỷ 19 Georg Wissowa đã mô tả. Cicero cho rằng mọi người nên có ý thức về danh dự của riêng mình và phải luôn cố gắng nâng cao danh dự của người khác bằng những lời khen ngợi đàng hoàng. Hơn nữa, lời khen, sự ngưỡng mộ và những hành động được tôn vinh phải vượt lên trên tất cả những ham muốn của riêng mình, và hành động và lời nói phải được lựa chọn với sự tôn trọng đối với bạn bè, đồng nghiệp, gia đình hoặc họ hàng. Cicero mô tả thanh niên trong việc theo đuổi danh dự: "Họ khao khát lời khen ngợi đến nhường nào! Họ sẽ không thực hiện những công việc gì để đứng vững giữa các đồng nghiệp của mình! Họ sẽ nhớ đến những người đã thể hiện lòng tốt với họ như thế nào và khao khát đền đáp lại nó như thế nào!"
Việc sử dụng "pietas" được ghi nhận lần đầu tiên trong tiếng Anh là trong tác phẩm The Alliance of Music, Poetry, and Oratory của Anselm Bayly, được xuất bản năm 1789.
Pietas erga parentes ( lòng hiếu thảo đối với cha mẹ ) là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của việc thể hiện đức hạnh trong văn hóa La Mã. Cognomen Pius ( Người hiếu thảo ) bắt đầu được sử dụng để đánh dấu một người đặc biệt hiếu thảo theo nghĩa này. Việc công bố lòng hiếu thảo cá nhân của một người thông qua hệ thống đặt tên chính thức dường như là một đổi mới của thời kỳ cuối Cộng hòa, khi Quintus Caecilius Metellus Pius tuyên bố cogomen này cho những nỗ lực của ông trong việc đưa cha mình, Numidicus, trở về từ nơi lưu đày.:880 Pietas cũng được mở rộng đến "cha mẹ" theo nghĩa là "tổ tiên" và là một trong những nguyên tắc cơ bản của truyền thống La Mã, được thể hiện qua việc chăm sóc người chết.
Pietas, như một đức tính, tồn tại bên trong một người, trái ngược với một đức tính hoặc món quà như Victoria, được ban tặng bởi các thần. Tuy nhiên, Pietas cho phép một người nhận ra nguồn gốc thiêng liêng của những lợi ích được ban tặng.:878
"Pietas" đóng vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực quan hệ quốc tế và ngoại giao. Uy tín của một vị tướng phụ thuộc rất nhiều vào ý chí gạt bỏ lợi ích cá nhân và cống hiến hết mình cho một lý tưởng, tránh mọi hành động phản trắc. Sự nhấn mạnh vào uy tín này đã dẫn đến danh tiếng của các vị tướng cá nhân và chính nhà nước La Mã đóng một vai trò thực tế trong các cuộc đàm phán và thảo luận. Cam kết về fides của các vị tướng cần phải nhất quán, thể hiện uy tín thông qua các hành động liên tục và cách tiếp cận ổn định trong quan hệ với các thực thể láng giềng. Việc duy trì sự tôn trọng đối với các hợp đồng hiện có có nghĩa là tôn trọng các lời hứa và lời thề, qua đó củng cố cam kết của Rome đối với hành vi đạo đức và sự tiếp nối của các chiến lược ngoại giao. Cơ hội giải quyết các xung đột là tối thiểu nếu lừa dối trở thành tiêu chuẩn trong các cuộc đàm phán của các vị tướng.
Pietas được thể hiện trên đồng tiền bởi các đồ vật thờ cúng, nhưng cũng là một người phụ nữ thực hiện việc hiến tế bằng lửa trên bàn thờ.:286 Trong hình ảnh của sự hiến tế, việc rót rượu là hành động cơ bản tượng trưng cho "pietas".
Pietas lần đầu tiên được thể hiện trên đồng tiền La Mã trên những đồng denarii do Marcus Herennius phát hành vào năm 108 hoặc 107 trước Công nguyên.:880 Pietas xuất hiện ở mặt trước dưới dạng một nhân cách hóa thần thánh, ở dạng bức tượng bán thân; phẩm chất của "pietas" được thể hiện bởi một người con đang cõng cha trên lưng; biểu tượng của nó sẽ được lặp lại trong Aeneid của Virgil, với Aeneas cõng cha Anchises của mình ra khỏi thành Troy đang bốc cháy.:880 là một trong những đức tính thường xuyên xuất hiện trên đồng tiền Hoàng gia, bao gồm cả những đồng tiền được phát hành dưới thời Hadrian.:813
Một trong những biểu tượng của "pietas" là con cò, được Petronius mô tả là pietaticultrix, "người tu luyện "pietas"." Con cò đặc biệt đại diện cho lòng hiếu thảo, vì người La Mã tin rằng nó thể hiện lòng trung thành của gia đình bằng cách quay trở lại cùng một tổ mỗi năm và chăm sóc cha mẹ khi về già. Vì vậy, một con cò xuất hiện bên cạnh Pietas trên một đồng tiền được phát hành bởi Metellus Pius (về tên gọi của ông ấy, xem ở trên).
Pietas là sự hiện diện thần thánh trong cuộc sống hàng ngày, nhắc nhở con người không được xâm phạm vào lãnh địa của các vị thần.:286 Xúc phạm đến "pietas" đòi hỏi một "piaculum", một nghi thức chuộc tội.:286
Ngôi đền Pietas ở Rome được vị chấp chính quan bình dân và người mới Manius Acilius Glabrio thề nguyện trọng thể tại trận Thermopylae vào năm 191 trước Công nguyên, nơi ông đánh bại hoàng đế Antiochus Đại đế trong Chiến tranh La Mã-Seleucid.:741–742:845 Ngôi đền Pietas được hoàn thành bởi con trai của Manius Acilius Glabrio và được xây dựng ở phía tây bắc của chợ rau của Rome (Forum Olitorium) gần Cổng Carmental. Ngôi đền có một bức tượng bằng vàng của Glabrio, bức tượng vàng đầu tiên của một công dân La Mã trong thành phố.
Theo một truyền thuyết kỳ diệu (miraculum), một người phụ nữ nghèo đói đang chết đói trong tù đã được con gái cứu thoát khi con gái cho cô bú sữa mẹ (so sánh với Roman Charity). Bị bắt quả tang, cô con gái không bị trừng phạt, nhưng được ghi nhận vì lòng hiếu thảo của mình. Mẹ và con gái được thả tự do và được hỗ trợ công khai cho phần đời còn lại của họ. Địa điểm này được coi là thiêng liêng đối với nữ thần Pietas (consecratus deae) vì cô đã chọn thể hiện sự hiện diện của mình ở đó.:880 Câu chuyện này là minh chứng cho lòng hiếu thảo của cha mẹ, sự tận tâm đúng đắn mà người ta nên dành cho cha mẹ của mình.:880
Phụ nữ hoàng tộc được miêu tả là "Pietas".
Pietas thường được miêu tả là nữ thần ở mặt sau của đồng tiền Hoàng gia La Mã, với phụ nữ của hoàng tộc ở mặt trước, như một đức tính phù hợp để gán cho họ. Phụ nữ của hoàng tộc có thể được miêu tả trong nghệ thuật dưới dạng nữ thần.
commentĐổi hướng đến /comment |
Cúp EFL 2019–20 là mùa giải thứ 60 của Cúp EFL (được gọi là Carabao Cup vì lý do tài trợ), giải đấu dành cho tất cả các câu lạc bộ tham gia Premier League và English Football League.
Manchester City là nhà đương kim vô địch hai lần, đã giữ được cúp vào năm 2019 và giành danh hiệu thứ ba liên tiếp với việc đánh bại Aston Villa trong trận chung kết tại Sân vận động Wembley ở London vào ngày 1 tháng 3 năm 2020.
Tất cả 92 câu lạc bộ thi đấu tại Premier League và English Football League được quyền tham dự giải đấu. Trong 2 vòng đấu đầu tiên, lễ bốc thăm được chia thành các câu lạc bộ miền Bắc và miền Nam.
Ở vòng 1, 22 trong số 24 câu lạc bộ Championship và tất cả các câu lạc bộ EFL League One và EFL League Two tham gia. Do cuộc khủng hoảng tài chính, Bury sau đó đã rút lui khỏi giải và cuối cùng bị trục xuất khỏi EFL. Kết quả là Sheffield Wednesday, đối thủ ở vòng 1 của Bury đặt cách vào vòng 2.
Vòng 2, hai câu lạc bộ Championship còn lại là Cardiff City và Fulham (lần lượt đứng thứ 18 và 19 trong mùa giải Premier League 2018–19) và các câu lạc bộ Premier League không tham dự Champions League hoặc Europa League sẽ tham gia.
Tổng cộng có 70 CLB thi đấu ở vòng 1: 24 từ League Two (Hạng 4), 24 từ League One (Hạng 3) và 22 từ Championship (Hạng 2). Lễ bốc thăm cho vòng này được chia dựa trên cơ sở địa lý thành các khu vực phía Bắc và phía Nam. Các đội được bốc thăm gặp một đội trong cùng khu vực. Lễ bốc thăm được thực hiện bởi John Barnes và Ray Parlour vào ngày 20 tháng 6 năm 2019.
Tổng cộng 50 CLB thi đấu ở vòng hai, bao gồm Fulham và Cardiff City từ Championship, cũng như các câu lạc bộ Premier League không tham gia thi đấu ở cúp châu Âu. Lễ bốc thăm cho vòng này được chia dựa trên cơ sở địa lý thành các khu vực phía Bắc và phía Nam. Các đội được bốc thăm gặp một đội trong cùng khu vực. Lễ bốc thăm được thực hiện vào ngày 13 tháng 8 năm 2019 bởi Gary Neville và Paul Robinson.
Tổng cộng có 32 CLB thi đấu ở vòng này. Arsenal, Chelsea, Liverpool, Manchester City, Manchester United, Tottenham Hotspur, và Wolverhampton Wanderers tham gia vòng này do họ đang tham dự cúp châu Âu. Lễ bốc thăm được tiến hành vào ngày 28 tháng 8 năm 2019 bởi Andy Hinchcliffe và Don Goodman. Các trận đấu diễn ra giữa tuần bắt đầu từ ngày 23 tháng 9 năm 2019.
Tổng cộng 16 CLB thi đấu ở vòng này (không có đội nào là đội vô địch). Lễ bốc thăm được tiến hành tại Stadium MK bởi Andy Hinchcliffe và Don Goodman sau trận đấu vòng ba giữa MK Dons và Liverpool vào ngày 25 tháng 9 năm 2019. Các trận đấu được diễn ra trong tuần bắt đầu từ ngày 28 tháng 10 năm 2019.
Tổng cộng 8 CLB thi đấu ở vòng này. Lễ bốc thăm được thực hiện vào ngày 31 tháng 10 năm 2019 bởi David James và Zoe Ball trên Chương trình Bữa sáng của BBC Radio 2. Các trận đấu được diễn ra trong tuần bắt đầu từ ngày 16 tháng 12 năm 2019. Liverpool tung vào sân đội hình thiếu kinh nghiệm trong trận đấu với Aston Villa và được dẫn dắt bởi HLV dẫn dắt đội U23 là Neil Critchley, trong khi đội một tham dự FIFA Club World Cup 2019 tại Qatar dưới sự dẫn dắt của Jürgen Klopp.
Tổng cộng 4 CLB thi đấu ở vòng này. Lễ bốc thăm được thực hiện vào ngày 18 tháng 12 năm 2019, bởi Dennis Wise và Chris Kamara tại Sân vận động Kassam của Oxford United. Các trận lượt đi diễn ra trong tuần bắt đầu từ ngày 6 tháng 1 năm 2020, trong khi trận lượt về diễn ra trong tuần bắt đầu từ ngày 27 tháng 1 năm 2020.
"Manchester City thắng với tổng tỉ số 3–2."
"Aston Villa thắng với tổng tỉ số 3–2." |
Trong ngôn ngữ học xã hội, giọng là cách phát âm một ngôn ngữ đặc trưng của một quốc gia, vùng miền, tầng lớp xã hội hoặc cá nhân. Giọng có thể được xác định bởi vị trí địa lý của người nói (giọng vùng miền hoặc địa lý), địa vị kinh tế xã hội của người nói, dân tộc của họ (giọng dân tộc), giai cấp hoặc tầng lớp xã hội của họ (giọng xã hội) hoặc ảnh hưởng từ tiếng mẹ đẻ của họ (giọng nước ngoài).
Giọng nói thường khác nhau về chất giọng, cách phát âm và sự phân biệt giữa nguyên âm và phụ âm, trọng âm và ngữ điệu. Mặc dù ngữ pháp, ngữ nghĩa, từ vựng và các đặc điểm ngôn ngữ khác thường thay đổi đồng thời với giọng nói, nhưng từ "giọng" có thể đề cập cụ thể đến sự khác biệt về cách phát âm, trong khi từ "phương ngữ" bao gồm bộ đặc điểm ngôn ngữ khác biệt rộng hơn. "Giọng" thường là một phần của "phương ngữ". |
Độc Tử bộ (; tiếng Ấn Độ cổ: Vātsīputraka; ), còn được gọi là Khả-trú tử bộ (可住子部), Bạt-tư tử bộ (跋次子部), Bạt-tư-phất-đa-la bộ (跋私弗多羅部), Khả-trú tử đệ tử bộ (可住子弟子部), Bà-thư tử bộ (婆雌子部), Bạt-tư-phất bộ (跋私弗部), Bà-sa bộ (婆蹉部), là một bộ phái Phật giáo xuất phát từ Trưởng lão bộ. Căn cứ vào tông nghĩa của Độc Tử bộ được ghi nhận trong Đại Tì-bà-sa luận và Phát trí luận thì bộ phái này ra đời sớm hơn Nhất thiết hữu bộ. Độc Tử bộ cùng với Đại chúng bộ, Phân biệt thuyết bộ và Nhất thiết hữu bộ, được xem là bốn bộ phái lớn trong thời kỳ 18 bộ phái.
Theo tài liệu của Chính lượng bộ, phân nhánh chính của Độc Tử bộ, khoảng 200 năm sau khi Phật nhập diệt, trưởng lão Độc Tử đã triệu tập kỳ kết tập thứ ba, mà kết quả của nó đã hình thành nên Độc Tử bộ. Cũng theo tài liệu của Chính lượng bộ, tên của vị trưởng lão được ghi là Vātsīputra, còn căn cứ vào các bi ký được khai quật, tên ngài là là Vāchiputa.
Bản dịch Tạng ngữ Dị bộ tinh thích của Thanh Biện ("Bhāvaviveka)" có ghi lại các truyền thuyết khác nhau về sự phân chia các bộ phái. Trong đó, truyền thuyết thứ ba là truyền thuyết của Chính lượng bộ: “Sau khi Phật nhập niết-bàn 137 năm, vào thời kỳ từ vua Nan-đà đến vua Ma-ha Bát-thổ-ma, các thánh trưởng lão đã tề tựu tại Hoa Thị thành. "Những tranh cãi đã nảy sinh trong Tăng đoàn, những người đa văn như trưởng lão Long và Kiên Ý đã giảng về Căn bản ngũ sự… do đó đã chia thành 2 nhánh.” “63 năm sau, trưởng lão Độc Tử đã tập hợp Tăng đoàn để giải quyết mọi tranh chấp và tổ chức kỳ kết tập thứ ba.” Tài liệu "Lịch sử Phật giáo Buton" cũng ghi chép những sự kiện này .
Theo truyền thuyết được ghi chép trong Dị bộ tông luân luận, vào khoảng 300 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, từ Nhất thiết hữu bộ phân xuất ra Độc Tử bộ. Còn trong tài liệu Đảo sử của truyền thống Phật giáo Nam truyền thì cho rằng Độc Tử bộ phát xuất từ Trưởng lão bộ.
Thời kỳ đầu, tông nghĩa của Độc Tử bộ hầu hết tương đồng với Nhất thiết hữu bộ qua Phát trí luận, chỉ với một số khác biệt đáng chú ý .
Trong thời kỳ 18 bộ phái, khoảng 100 năm sau khi Độc Tử bộ hình thành, do cách giải thích khác biệt trong “Phát trí luận” , bộ phái này đã phân thành 4 nhánh:
Trong đó, Chính lượng bộ phát triển nhất, dần thay thế địa vị ban đầu của Độc Tử bộ. Phần "Y thuyết luận" trong tài liệu Tam-di-để-bộ luận ("Samityasastra") là chuyên luận duy nhất còn sót lại mô tả tích cực học thuyết của dòng truyền thừa Độc Tử trong thời kỳ 18 bộ phái. Tài liệu Tam pháp độ luận được xem là một luận thư giải thích kinh Phật theo quan điểm của Độc Tử bộ, hơi thiên về tín ngưỡng Đại thừa.
Đại sư Đề-bà-thiết-ma ("Devaśarman", Thiên Tịch), trong Thức thân luận, xưng mình là một luận giả Tính Không, đã chỉ trích các luận giả Bổ-đặc-già-la của Độc Tử bộ, đã làm dấy lên các cuộc tranh luận liên quan về đúng sai chưa bao giờ chấm dứt.
Độc Tử bộ thường được xem là đại biểu của phái luận giả Bổ-đặc-già-la, chẳng hạn trong các ghi chép trong Đại Tì-bà-sa luận. Đại trí độ luận của Đại sư Long Thụ ("Nagarjuna") có ghi chép Độc Tử bộ rất tôn sùng Xá-lợi-phất A-tì-đàm. Do đó, bộ luận của dòng truyền thừa Độc Tử bộ còn được gọi là "Độc Tử A-tì-đàm", để phân biệt với bộ Xá-lợi-phất A-tì-đàm luận của dòng truyền thừa Phân biệt thuyết bộ.
Trong Thuyết chuyển bộ có bảo lưu bộ Thắng nghĩa Bổ-đặc-già-la, xây dựng một phương pháp vi tế và khó thực hiện để nắm bắt ngũ uẩn. Một số học giả tin rằng học thuyết này có thể bị ảnh hưởng bởi học thuyết về Bổ-đặc-già-la của Độc Tử bộ.
Vấn đề khởi diệt sát-na.
Theo Tứ Đế luận của Bà-tẩu-bạt-ma ("Vasavarman") và bản dịch Dị bộ tông luân luận của Huyền Trang, các tăng sĩ Độc Tử bộ tin rằng trong số tất cả các hình thức, có những hình thức tồn tại tạm thời, chẳng hạn như một phần của sắc pháp, cũng có những cái biến mất trong chốc lát (sát-na, "ksana"), chẳng hạn như tâm, trạng thái tinh thần. Vì thế, Độc Tử bộ không thừa nhận thuyết “mọi hành động đều bị tiêu diệt trong sát-na” của Hóa địa bộ , Nhất thiết hữu bộ và Ẩm Quang bộ.
Độc Tử bộ được xem là một trong những bộ phái hiếm hoi chủ trương “hữu nhân ngã” nên thường bị các bộ phái khác chỉ trích. Trong một số tài liệu Đại thừa, Trí Di và những người khác thậm chí còn gọi họ là những kẻ "ngoại đạo dựa Phật" .
Nghiên cứu học thuật.
Theo Đại sư Ấn Thuận, Đại Tì-bà-sa luận đã chỉ trích thuyết "Niết-bàn tam chủng" của Độc Tử bộ là một lý thuyết của các Phân biệt luận giả . |
Đặng Quang Dũng (sinh ngày 21 tháng 10 năm 1992) là một hoạ sĩ truyện tranh và nhà thiết kế đồ hoạ người Việt Nam. Anh thường được biết đến với bút danh Mèo Mốc qua những tác phẩm truyện tranh dành cho mọi lứa tuổi như "Nhật ký Mèo Mốc", "Tây Du Hí", hay "Ly Chũn." Đến nay anh đã có tổng cộng 20 tập truyện tranh được xuất bản, và được xem là một trong những tác giả truyện tranh Việt Nam thế hệ mới thành công nhất về mặt thương mại.
Đặng Quang Dũng sinh năm 1992 tại Hà Tĩnh, Việt Nam. Anh bắt đầu sáng tác truyện tranh như một sở thích khi đang học tiểu học, khởi đầu bằng việc vẽ lại những trang truyện Doraemon để các bạn cùng lớp đọc. Anh từng theo học tại Trường Đại học Ngoại thương, chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế, và sau đó theo chuyên ngành Thiết Kế Đồ Hoạ tại Singapore. Sau khi tốt nghiệp, anh có thời gian làm việc tại tập đoàn Google Singapore trước khi trở về Việt Nam để hoạt động như một tác giả truyện tranh toàn thời gian. Hiện anh đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội.
Đặng Quang Dũng thường được biết đến với bút danh "Mèo Mốc". Tên gọi này bắt nguồn từ nickname thời trẻ của anh, "Black Mokona". Cái tên "Mokona" được thu gọn thành "Mốc", kết hợp với "Mèo" (vì anh thích mèo) đã tạo thành bút danh "Mèo Mốc". Đây cũng là tên của nhân vật chính trong series truyện tranh "Nhật ký Mèo Mốc", lấy cảm hứng từ cuộc sống thật của anh.
Đặng Quang Dũng bắt đầu sự nghiệp bằng công việc sáng tác truyện tranh tự do tại một công ty. Ban đầu, công việc của anh là sáng tác và minh hoạ những mẩu truyện hài ngắn cho tạp chí, cũng như một số tranh minh hoạ khác. Chính ở thời điểm này, anh đã bắt đầu sáng tác series truyện tranh mạng của riêng mình, "Nhật ký Mèo Mốc".
"Nhật ký Mèo Mốc" mới đầu được chia sẻ trên Facebook cá nhân của Đặng Quang Dũng, với nhân vật chính là Mèo Mốc. Sau khi trở nên nổi tiếng trên mạng xã hội, series này đã được tổng hợp thành một tập sách để xuất bản vào tháng 10 năm 2014, bởi SkyComics. Tập đầu tiên khi ra mắt đã đạt danh hiệu sách truyện tranh bán chạy nhất Tiki trong nhiều tháng liền và tạo nên một cơn sốt truyện tranh Việt Nam. Đến năm 2023, đã có 7 tập trong series "Mèo Mốc" được xuất bản. Những tập gần đây nhất còn được tái bản ngay sau khi phát hành.
"Tây Du Hí" được bắt đầu sáng tác từ năm 2015. Đây là series truyện dài tập thứ hai của Đặng Quang Dũng. Ban đầu, truyện được trình bày dưới thể thức truyện hài 4 khung (yonkoma). Bắt đầu từ tập 3 của series, anh quyết định chuyển hướng đi mới cho bộ truyện này vì cảm thấy nó quá giống series "Mèo Mốc". Vì vậy, bắt đầu từ tập 4, truyện được trình bày theo bố cục truyện tranh truyền thống, và có nội dung nghiêm túc cũng như tuyến truyện dài phức tạp hơn. Đến năm 2021, đã có 6 tập trong series "Tây Du Hí" được xuất bản. #đổi
Vào năm 2019, Đặng Quang Dũng đã cho ra mắt một tập truyện tranh mới với tựa đề "Nào ta cùng ăn". Với tập truyện này, anh đã đến với cách trình bày có bố cục tranh - thoại rõ ràng hơn, với những đường nét mềm mại hơn.
Năm 2021, tác phẩm "Ly Chũn - Tết là nhất, nhất là Tết!" của Đặng Quang Dũng đã đạt giải nhì trong Giải Thưởng Dế Mèn, một giải thưởng văn học thường niên dành cho các tác phẩm thiếu nhi. (Trong năm này, không có giải nhất, và trước đó chỉ có một giải nhất từng trao cho nhà văn Nguyễn Nhật Ánh)
Thành tựu và giải thưởng.
Đặng Quang Dũng là một trong những tác giả truyện tranh Việt Nam có lượng bản in lớn nhất, với ước tính gần nửa triệu bản in. Tháng 6 năm 2021, tác phẩm "Ly Chũn - Tết là nhất, nhất là Tết" mang về cho anh giải thưởng Khát Vọng Dế Mèn. Đây là giải thưởng thường niên tôn vinh các tác phẩm sáng tác bởi thiếu nhi và vì thiếu nhi. Giải thưởng này đã ghi nhận Đặng Quang Dũng từ một "hiện tượng truyện tranh" trở thành một tác giả có đủ độ chín, sức bền và sức bật. Năm 2019, anh từng được đề cử vào danh sách hạt giống tiềm năng cho danh sách Forbes 30 Under 30 tại Việt Nam, và phải đến năm 2022 mới chính thức được vinh danh trong danh sách này. Tuy nhiên sau đó, anh cùng nhiều nhân vật khác đã tuyên bố rút tên khỏi danh sách do không đồng tình với cách xử lý khủng hoảng của Forbes Việt Nam.
Hoạt động xã hội.
Sự kiện "tròn vuông tam giác" năm 2018.
Năm 2018, những thông tin không đúng sự thật về sách Tiếng việt 1 – Công nghệ giáo dục (TV1 – CNGD) của GS. Hồ Ngọc Đại đã lan truyền mạng xã hội. Những hình tròn, vuông, tam giác được sử dụng làm công cụ học đếm số tiếng đã bị xuyên tạc thành "bảng chữ mới", tạo nên một trào lưu ảnh và video chế giễu, chỉ trích gay gắt, thậm chí xúc phạm giáo sư Hồ Ngọc Đại, người thực hiện bộ sách.
Đặng Quang Dũng đã sáng tác một bộ truyện tranh ngắn với tựa đề "Khoa học cùng Mèo Mốc - Bảng chữ mới". Bộ truyện ngay lập tức nổi tiếng trên mạng xã hội, và được các phương tiện báo chí chính thống trích dẫn để "giải độc" thông tin giả.
Scandal Ngô Hoàng Anh và Forbes Việt Nam năm 2022.
Năm 2022, Đặng Quang Dũng được vinh danh trong danh sách Forbes 30 Under 30 Việt Nam, lĩnh vực nghệ thuật. Đây là danh sách tôn vinh những cá nhân dưới 30 tuổi có thành tựu nổi bật. Cùng trong danh sách năm đó có Ngô Hoàng Anh, được vinh danh ở lĩnh vực khoa học, giáo dục, bị nhiều cựu học sinh cùng trường tố cáo về hành vi quấy rối tình dục qua tin nhắn.
Trước phản ánh của cộng đồng và những thành viên khác của Forbes 30 Under 30 Việt Nam về vụ việc này, tạp chí Forbes Việt Nam chỉ có những động thái úp mở không rõ ràng. Vào ngày 24 tháng 2 năm 2022, tạp chí Forbes Việt Nam ra thông báo quyết định rút tên Ngô Hoàng Anh khỏi danh sách vinh danh với lí do "nguyện vọng qua email của Ngô Hoàng Anh gửi đến tòa soạn", khiến công chúng đặt nhiều nghi vấn.
Ngày 25 tháng 2 năm 2022, Đặng Quang Dũng, trước đó vẫn bày tỏ sự tin tưởng vào Forbes Việt Nam , đã gửi một thông cáo công khai, cho biết anh đã tự rút khỏi danh sách Forbes 30 Under 30 Việt Nam vì không đồng tình với cách xử lý vụ việc của Forbes Việt Nam. Cùng ngày hôm đó, nhiều thành viên khác của danh sách năm 2022 và các năm trước đó cũng đồng loạt lên tiếng, thông báo rút tên, tạo nên một làn sóng "tẩy chay" Forbes Việt Nam. |
Đội tuyển bóng chuyền nữ quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ
Đội tuyển bóng chuyền nữ quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ là một đội tuyển được quản lý bởi Liên đoàn bóng chuyền Thổ Nhĩ Kỳ đại diện cho Thổ Nhĩ Kỳ tham dự các giải đấu và trận đấu giao hữu bóng chuyền trên đấu trường quốc tế.
Đội hiện là một trong những đội tuyển xuất sắc nhất của Thổ Nhĩ Kỳ và được đặt biệt danh là "Filenin Sultanları" () kể từ khi Giải vô địch bóng chuyền nữ châu Âu 2003 diễn ra ngay trên sân nhà. Đội hiện giữ vị trí số 1 thế giới trên bảng xếp hạng của FIVB tính đến tháng 7 năm 2023. Huấn luyện viên trưởng hiện tại của đội là ông Daniele Santarelli, người Ý.
Kỹ sư xây dựng Sabiha Gürayman là người phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ đầu tiên thi đấu môn bóng chuyền, môn thể thao này được du nhập vào Thổ Nhĩ Kỳ khoảng những năm 1910. Khi còn là một cô gái trẻ, Gürayman đã thi đấu cho đội bóng chuyền nữ Fenerbahçe, trước đó từng thi đấu cho đội nam của câu lạc bộ này. Bóng chuyền nữ Thổ Nhĩ Kỳ đã trải qua thời kỳ phát triển thần tốc kể từ những năm 2000, đạt được nhiều thành công nhất định ở cả cấp độ câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia.
Đội đã có chuỗi bất bại 22 trận liên tiếp kể từ ngày 29 tháng 6 đến ngày 24 tháng 9 năm 2023. Trong giai đoạn thăng hoa đó, họ bất bại trong các trận đấu tại FIVB Nations League, Giải vô địch châu Âu và Vòng loại Thế vận hội Mùa hè.
Do đó, bóng chuyền nữ là một trong những môn thể thao được nhiều người theo dõi nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Danh sách cầu thủ.
Dưới đây là danh sách các cầu thủ tham dự Giải vô địch bóng chuyền nữ thế giới 2022 diễn ra tại Hà Lan và Ba Lan.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi Daniele Santarelli |
Tóc đuôi ngựa là một kiểu tóc trong đó một phần, hầu hết hoặc tất cả tóc trên đầu được kéo ra khỏi mặt, tập trung và cố định ở phía sau đầu bằng dây buộc tóc, kẹp hoặc phụ kiện tương tự khác và để buông tự do từ điểm đó. Tóc đuôi ngựa có tên gọi như vậy vì nó giống với đuôi của một con ngựa.
Tóc đuôi ngựa thường được buộc ở giữa phía sau đầu hoặc sau gáy, nhưng cũng có thể được buộc ở bên cạnh đầu (đôi khi được coi là kiểu tóc trang trọng) hoặc trên đỉnh đầu. Nếu tóc được chia thành hai phần, chúng được gọi là tóc đuôi ngựa đôi, tóc đuôi sam đôi, tóc bím hoặc tóc cuộn nếu để buông tự do và tóc bím, tóc tết hoặc tóc bện nếu được tết lại.
Vấn đề sức khỏe.
Những người cột tóc đuôi ngựa chặt thường dễ gặp phải tình trạng rụng tóc do lực kéo (traction alopecia). Traction alopecia đã được chứng minh là có liên quan chặt chẽ với các kiểu tóc kéo căng tóc, bao gồm tóc đuôi ngựa, và các kiểu tóc ít căng hơn không liên quan đến tình trạng này. Đôi khi nó có thể gây đau đầu.:761
Ngoài ra, những người cột tóc đuôi ngựa có thể bị đau đầu ngoại biên do căng thẳng từ việc buộc tóc kéo dài thành một búi, kéo căng da đầu. Cơn đau xuất hiện cũng là do tóc đuôi ngựa kéo các dây thần kinh trên da đầu xung quanh mặt, dẫn đến đau đầu nhẹ đến nghiêm trọng hoặc chứng đau nửa đầu.
Việc nới lỏng tóc đuôi ngựa có thể giảm đau và đau đầu, mặc dù mức độ giảm đau khác nhau ở mỗi cá nhân. |
Nhà Lippe-Biesterfeld là một dòng thứ cấp của Vương tộc Lippe (một triều đại Đức trị vì từ năm 1413 đến năm 1918, từ năm 1789, tiếp nhận tước Thân vương).
Nhánh quan trọng của Lippe-Biesterfeld trị vì Thân vương quốc Lippe vào năm 1905, sau khi nhánh chính cầm quyền bị tuyệt tự, Bá tước Leopold của Lippe-Biesterfeld lên ngôi và lấy vương hiệu Leopold IV, Thân vương xứ Lippe. Ông tiếp tục cai trị cho đến Cách mạng Đức năm 1918. Năm 1916, ông phong em trai mình là Bá tước Bernhard xứ Lippe-Biesterfeld, làm Thân vương. Thông qua con trai của ông, Thân vương Bernhard xứ Lippe-Biesterfeld (1911–2004), vương tế phối ngẫu của Nữ vương Juliana của Hà Lan, nó cũng trở thành tước hiệu của Vương thất Hà Lan, được thành lập vào năm 1937. |
Hậu chiến tranh, hay thời kỳ hậu chiến (tiếng Anh: post-war) là khoảng thời gian ngay sau khi một cuộc chiến tranh kết thúc. Thuật ngữ này thường được sử dụng để đề cập đến một khoảng thời gian sau Thế chiến II – sự kiện kết thúc vào năm 1945. Một khoảng thời gian hậu chiến tranh có thể trở thành một giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh, khi một cuộc chiến tranh giữa các bên tương tự tiếp tục diễn ra vào một thời điểm sau đó (như khoảng thời gian giữa Thế chiến I và Thế chiến II). Ngược lại, thời kỳ hậu chiến đánh dấu sự chấm dứt hoàn toàn xung đột vũ trang.. |
Phá hoại tài sản
Phá hoại tài sản (đôi khi được gọi là phá hủy tài sản) là hành vi làm hư hỏng hoặc phá hủy tài sản bất động hoặc tài sản cá nhân hữu hình, do sơ suất, cố ý phá hủy hoặc thiên tai gây ra. Phá hủy tài sản là một loại hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, liên quan đến thiệt hại vật lý cố ý và nghiêm trọng hơn đối với tài sản không thể sửa chữa hoặc chi phí sửa chữa cực kỳ đắt đỏ.
Phá hoại tài sản tương tự như phá hoại (cố ý làm hỏng, phá hủy hoặc làm mất giá) và đốt phá (phá hủy tài sản bằng lửa) do những tội phạm này liên quan đến việc phá hủy và làm hư hỏng tài sản của người khác một cách bất hợp pháp. Phá hoại tài sản bao gồm phá hoại tài sản gắn liền cố định với mặt đất hoặc tài sản di động của chủ sở hữu tài sản, đồng thời gây ra thiệt hại vật lý lớn hơn phá hoại.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. |
Lông tai là lông cuối mọc từ sụn nang tóc bên trong ống tai ngoài ở người. Theo nghĩa rộng hơn, lông tai cũng có thể bao gồm các sợi lông tơ mỏng bao phủ hầu hết tai, đặc biệt là ở các phần nhô ra của tai trước, hoặc thậm chí là sự phát triển bất thường của lông như thấy trong bệnh rậm lông quá mức (hypertrichosis) và hirsutism. Nghiên cứu y tế về chức năng của lông tai hiện nay rất khan hiếm.
Sự phát triển của lông trong ống tai thường được quan sát thấy tăng lên ở nam giới lớn tuổi, cùng với sự tăng trưởng của lông mũi. Lông có thể nhìn thấy nhô ra khỏi ống tai đôi khi được cắt tỉa vì lý do thẩm mỹ. Sự phát triển quá mức của lông trong hoặc trên tai được gọi về mặt y học là rậm lông quá mức ở tai (auricular hypertrichosis). Một số nam giới, đặc biệt là ở nam giới Ấn Độ, có lông mọc thô dọc theo phần dưới của vành tai, một tình trạng được gọi là "có vành tai nhiều lông" ("hypertrichosis lanuginosa acquisita").
Lông tai là một sợi protein mọc từ các nang tóc ở lớp hạ bì, hoặc da. Ngoại trừ những vùng da nhẵn, cơ thể con người được bao phủ bởi các nang tóc tạo ra tóc dày (terminal hair) và tóc tơ mỏng (vellus hair). Nó là một vật liệu sinh học quan trọng chủ yếu được cấu tạo bởi protein, đặc biệt là keratin. |
Lông mũi là loại lông mọc trong mũi của con người. Người lớn thường có lông mũi. Lông mũi có chức năng lọc các hạt lạ xâm nhập vào khoang mũi và thu thập độ ẩm. Để hỗ trợ cho chức năng đầu tiên, kết quả của một nghiên cứu năm 2011 chỉ ra rằng mật độ lông mũi tăng làm giảm nguy cơ phát triển bệnh hen suyễn ở những người bị viêm mũi dị ứng theo mùa, có thể là do khả năng lọc phấn hoa và các chất gây dị ứng khác của lông mũi tăng lên.
Lông mũi khác với lông mao của lớp niêm mạc có lông mao của khoang mũi. Đây là những cấu trúc dựa trên vi ống được tìm thấy trong đường hô hấp, tham gia vào cơ chế thanh thải niêm mạc.
Có rất nhiều thiết bị được bán để tỉa lông mũi, bao gồm tông đơ tròn thu nhỏ và các phụ kiện cho máy cạo râu điện. Các tông đơ này sẽ làm ngắn lông mũi đến mức không thể nhìn thấy chúng bên ngoài lỗ mũi. Một chiếc nhíp cũng có thể được sử dụng để giúp loại bỏ những sợi lông này. Các phương pháp khác cũng có tác dụng chẳng hạn như tẩy lông. |
Ốc tai là một phần của tai trong tham gia vào quá trình nghe. Nó là một khoang hình xoắn ốc trong mê đạo xương, ở người có 2,75 vòng quanh trục của nó, được gọi là modiolus. Một thành phần cốt lõi của ốc tai là cơ quan Corti, cơ quan cảm giác của thính giác, được phân bố dọc theo vách ngăn tách các buồng chứa dịch trong ống xoắn ốc của ốc tai.
Tên gọi ốc tai có nguồn gốc {{ety|grc|κοχλίας (kokhlias)|xoắn ốc, vỏ ốc}}.
Ốc tai (số nhiều: cochleae) là một khoang xương xoắn ốc, rỗng, hình nón, trong đó sóng lan truyền từ đáy (gần tai giữa và cửa sổ bầu dục) đến đỉnh (đỉnh hoặc tâm của xoắn ốc). Kênh xoắn ốc của ốc tai là một phần của mê đạo xương của tai trong, dài khoảng 30mm và tạo ra 23⁄4 vòng quanh modiolus. Các cấu trúc ốc tai bao gồm:
Ốc tai là một phần của tai trong có hình dạng giống như vỏ ốc (cochlea trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là ốc sên). Ốc tai nhận âm thanh dưới dạng rung động, gây ra chuyển động của các lông mao. Các lông mao sau đó chuyển đổi những rung động này thành các xung thần kinh được đưa lên não để giải thích. Hai trong số ba phần chất lỏng là các ống dẫn và phần thứ ba là 'Cơ quan Corti' phát hiện các xung áp lực di chuyển dọc theo dây thần kinh thính giác đến não. Hai ống dẫn được gọi là ống tiền đình và ống nhĩ.
Cấu trúc vi mô.
Các thành của ốc tai rỗng được làm bằng xương, với lớp lót mỏng và tinh tế của mô biểu. Ống xoắn này được chia qua hầu hết chiều dài của nó bởi một vách ngăn màng bên trong. Hai không gian bên ngoài chứa đầy chất lỏng (ống hoặc scalae) được hình thành bởi vách ngăn phân chia này. Ở đỉnh của các ống cuộn xoắn ốc như vỏ ốc, hướng của chất lỏng được đảo ngược, do đó biến đổi ống tiền đình thành ống nhĩ. Khu vực này được gọi là helicotrema. Sự tiếp tục này tại helicotrema cho phép chất lỏng được đẩy vào ống tiền đình bởi cửa sổ bầu dục di chuyển trở lại ra ngoài thông qua chuyển động trong ống nhĩ và sự lệch của cửa sổ tròn; vì chất lỏng gần như không nén được và thành xương cứng nhắc, nên điều cần thiết là thể tích chất lỏng được bảo toàn phải thoát ra ngoài ở đâu đó.
Vách ngăn theo chiều dài chia hầu hết ốc tai thực chất là một ống chứa đầy chất lỏng, 'ống' thứ ba. Cột trung tâm này được gọi là ống ốc tai. Chất lỏng của nó, dịch nội tai, cũng chứa các chất điện giải và protein, nhưng về mặt hóa học thì khá khác với dịch ngoại tai. Trong khi dịch ngoại tai giàu ion natri, dịch nội tai giàu ion kali, tạo ra một điện thế ion, điện.
Các tế bào tóc được sắp xếp thành bốn hàng trong cơ quan Corti dọc theo toàn bộ chiều dài của cuộn ốc tai. Ba hàng bao gồm các tế bào tóc ngoài (OHCs) và một hàng bao gồm các tế bào tóc trong (IHCs). Các tế bào tóc trong cung cấp đầu ra thần kinh chính của ốc tai. Ngược lại, các tế bào tóc ngoài chủ yếu 'nhận' đầu vào thần kinh từ não, điều này ảnh hưởng đến khả năng vận động của chúng như một phần của "bộ khuếch đại trước" cơ học của ốc tai. Đầu vào cho OHC đến từ thể ô liu thông qua bó sợi olivocochlear trung bình.
Ống ốc tai gần như phức tạp như chính tai. Ống ốc tai được giới hạn bởi ba mặt bởi màng đáy, dải xoắn ốc và màng Reissner. Dải xoắn ốc là một lớp mao mạch và tế bào tiết giàu; màng Reissner là một màng mỏng ngăn cách dịch nội tai với dịch ngoại tai; và màng đáy là một màng cứng về mặt cơ học, hỗ trợ cơ quan thụ cảm của thính giác, cơ quan Corti và xác định các đặc tính truyền sóng cơ học của hệ thống ốc tai.
Các loài động vật khác.
Ốc tai dạng xoắn là duy nhất đối với động vật có vú. Ở chim và các động vật có xương sống không phải động vật có vú khác, khoang chứa các tế bào cảm giác thính giác đôi khi cũng được gọi là "ốc tai", mặc dù nó không cuộn tròn. Thay vào đó, nó tạo thành một ống có đầu bịt kín, còn được gọi là ống ốc tai. Sự khác biệt này dường như đã phát triển song song với sự khác biệt về phạm vi tần số nghe giữa động vật có vú và động vật có xương sống không phải động vật có vú. Phạm vi tần số cao hơn ở động vật có vú một phần là do cơ chế khuếch đại âm thanh độc đáo của chúng bằng rung động thân tế bào chủ động của các tế bào tóc ngoài. Tuy nhiên, độ phân giải tần số không tốt hơn ở động vật có vú so với hầu hết các loài thằn lằn và chim, nhưng giới hạn tần số trên cao hơn - đôi khi cao hơn nhiều. Hầu hết các loài chim không nghe được ở tần số trên 4–5 kHz, tần số tối đa hiện được biết là ~ 11 kHz ở cú chuồng. Một số loài động vật biển có vú nghe được ở tần số lên đến 200 kHz. Một khoang xoắn dài, thay vì một khoang ngắn và thẳng, cung cấp nhiều không gian hơn cho các quãng tám bổ sung của dải tần nghe, và đã làm cho một số hành vi có nguồn gốc cao liên quan đến thính giác của động vật có vú trở nên khả thi.
Vì việc nghiên cứu ốc tai về cơ bản nên tập trung vào mức độ của các tế bào tóc, nên điều quan trọng là phải lưu ý đến sự khác biệt về giải phẫu và sinh lý giữa các tế bào tóc của các loài khác nhau. Ví dụ, ở chim, thay vì các tế bào tóc ngoài và trong, có các tế bào tóc cao và ngắn. Có một số điểm tương đồng đáng chú ý liên quan đến dữ liệu so sánh này. Đối với một, tế bào tóc cao có chức năng rất giống với tế bào tóc trong, và tế bào tóc ngắn, thiếu sự chi phối của sợi thần kinh thính giác afferent, giống với tế bào tóc ngoài. Tuy nhiên, một điểm khác biệt không thể tránh khỏi là trong khi tất cả các tế bào tóc đều được gắn vào màng tectorial ở chim, thì chỉ có các tế bào tóc ngoài được gắn vào màng tectorial ở động vật có vú. |
Hang động Te'omim (), hoặc hang động sinh đôi, là một hang động karst và là một khu bảo tồn thiên nhiên ở Israel nằm ở rìa phía tây của dãy núi Jerusalem, gần Beit Shemesh.
Hang Te'omim là điểm nhấn trung tâm dọc theo con đường đi bộ 3 km được coi là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng và được yêu thích nhất trong khu vực. Để bảo vệ quần thể dơi ngủ đông, hang động đóng cửa không đón du khách trong mùa đông, từ ngày 1 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3. Tuy nhiên, trong các mùa khác, hang động mở cửa cho công chúng
Hang động có ý nghĩa khảo cổ quan trọng với những khám phá trải dài qua các thời kỳ lịch sử khác nhau. Những khám phá đáng chú ý bao gồm hài cốt của quân nổi dậy, vũ khí và nơi tích trữ tiền xu, cho thấy vai trò của nó như một hang động trú ẩn cho quân nổi dậy và người tị nạn Do Thái trong cuộc nổi dậy Bar Kokhba. Hơn nữa, bằng chứng về một mỏ đá thạch cao cổ có niên đại từ giữa thời kỳ Đồ đồng và có thể là về thời kỳ cuối La Mã địa điểm tôn giáo gắn liền với thuật chiêu hồn đã được phát hiện trong hang động, đã làm tăng thêm tầm quan trọng khảo cổ học của nó. |
Tóc dài là kiểu tóc mà tóc trên đầu được mọc tự nhiên đến một độ dài nhất định. Độ dài của tóc dài có thể thay đổi tùy theo từng nền văn hóa, thậm chí là trong cùng một nền văn hóa. Ví dụ, một người phụ nữ có mái tóc dài ngang cằm ở một số nền văn hóa có thể được coi là tóc ngắn, trong khi một người đàn ông có cùng độ dài tóc ở một số nền văn hóa tương tự có thể được coi là tóc dài.
Ở nhiều nền văn hóa, nam giới có mái tóc cắt ngắn được coi là nằm dưới sự kiểm soát của xã hội, chẳng hạn như khi ở trong quân đội hoặc nhà tù hoặc như một hình phạt cho tội ác. Tóc dài bóng mượt của phụ nữ thường được cả nam giới và phụ nữ trên các nền văn hóa đánh giá là hấp dẫn. Tỷ lệ mắc bệnh trichophilia (sự ham thích hoặc cuồng tín tóc) là 7% dân số, và tóc rất dài là chủ đề phổ biến của sự sùng bái trong nhóm này.
Ý nghĩa sinh học.
Con người, ngựa, đười ươi và sư tử là một trong số ít loài có thể mọc tóc dài trên đầu hoặc bờm rất dài. Con người được cho là đã mất bộ lông của mình cách đây 2,5-3 triệu năm khi chuyển từ môi trường sống trong rừng sang thảo nguyên mở, do tác động của quá trình chọn lọc tự nhiên, vì sự phát triển này giúp con người có thể chạy nhanh và săn mồi ở gần đường xích đạo mà không bị quá nóng. Tóc trên đầu là một ngoại lệ, đó là một đặc điểm sống còn vì nó cung cấp khả năng cách nhiệt nhiệt cho da đầu khỏi ánh nắng mặt trời, bảo vệ khỏi tiếp xúc với tia cực tím (UV) và cũng giúp làm mát (khi mồ hôi bốc hơi từ tóc ướt). Khả năng mọc tóc thẳng đã được quan sát ở các nhóm phụ Homo sapiens ở các vùng ít nắng hơn xa đường xích đạo. So với tóc kiểu Afro xoắn, tóc thẳng cho phép nhiều tia UV hơn chiếu vào da đầu (điều này rất cần thiết cho việc sản xuất vitamin D, rất quan trọng cho sự phát triển của xương).
Khả năng mọc tóc rất dài có thể là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, vì tóc dài và khỏe là dấu hiệu của khả năng sinh sản. Một lời giải thích về mặt sinh học tiến hóa cho sự hấp dẫn này là độ dài và chất lượng tóc có thể đóng vai trò như một dấu hiệu của tuổi trẻ và sức khỏe, thể hiện khả năng sinh sản của người phụ nữ. Vì tóc mọc chậm nên tóc dài có thể tiết lộ 2-3 năm về tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng, tuổi tác và khả năng sinh sản của một người. Suy dinh dưỡng, thiếu hụt khoáng chất và vitamin do đói kém có thể gây rụng tóc hoặc thay đổi màu tóc (ví dụ: tóc đen chuyển sang màu đỏ).
Ý nghĩa tâm lý.
Các nhà nhân chủng học đã đưa ra các ước tính rằng tóc dài có thể mang ý nghĩa chức năng như một phần của trang sức tự nhiên, một sản phẩm phụ sau quá trình chọn lọc tự nhiên, sau khi loại lông nội tiết tố androgen/soma (lông trên cơ thể) chủ yếu đã biến mất. Một lý thuyết khác là tóc dài có thể là kết quả của sự chọn lọc giới tính trong cộng đồng ngư dân, trong đó mái tóc dài và mượt có thể đóng vai trò như một biểu tượng của sức khỏe và sự mạnh mẽ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng có những trường hợp và cá nhân mà tóc ngắn lại được coi là một đặc điểm được ưa chuộng
Khi đạt độ tuổi từ bảy đến chín tháng, trẻ sơ sinh có khả năng phân biệt giới tính dựa trên các yếu tố như độ dài tóc, cao độ giọng nói và đặc điểm khuôn mặt.
Ý nghĩa văn hóa.
Những cách sống thường được coi là cứng nhắc hơn, chẳng hạn như binh lính và kỷ luật tôn giáo, thường có những quy tắc rõ ràng về độ dài tóc. Ví dụ, các nhà sư Phật giáo cạo đầu như một phần của giáo lý thờ cúng của họ. Tương tự, những người đàn ông tôn giáo có mái tóc dài bao gồm Pagan giáo, những người Na-xi-rít của Kinh thánh Hebrew (Samson là một ví dụ nổi tiếng) và Sikh giáo. Các nền văn hóa khác có thể có cái nhìn tiêu cực về tóc dài nam; trong lịch sử, một số nhóm chinh phục đã sử dụng tóc dài của người bị chinh phục làm biểu tượng cho "sự khác biệt" hay sự thấp kém của họ, như trường hợp của người Ireland Gaelic dưới sự cai trị của người Anh và người Moor dưới sự cai trị của người Tây Ban Nha ở Tây Ban Nha thời Trung cổ.
Các nền văn hóa Đông Á truyền thống gắn kết mái tóc không được chải chuốt ở phụ nữ với thái độ vô trách nhiệm, vì phụ nữ ở Đông Á được kỳ vọng phải buộc tóc theo các kiểu như đuôi ngựa, bím hoặc búi, như một biểu tượng của trách nhiệm.
Nghĩa chuyển của "tóc dài" trong tiếng Anh thường là biểu thị cho một người có kiến thức nghệ thuật hoặc trí tuệ, một người sành thẩm mỹ. Như một thuật ngữ mô tả, nó đã được áp dụng cho người Merovingian và những người đam mê âm nhạc cổ điển, cũng như những người hippie và những người sành thẩm mỹ.
Độ dài tóc thường được đo (bằng cm hoặc inch) từ đường chân tóc trên trán qua điểm cao nhất của hộp sọ đến điểm kết thúc, và đôi khi từ đỉnh đầu. Cách đo thứ hai sẽ cho kết quả ngắn hơn khoảng 10 cm. Trong thẩm mỹ, độ dài tóc thường được phân loại theo bộ phận cơ thể mà phần lớn tóc dài nhất kết thúc, bao gồm: ngang cằm, ngang vai, ngang xương bả vai/ngang lưng, ngang eo, ngang hông (tức là ngang đùi trên, nơi chân gặp mông), ngang đùi, ngang đầu gối và ngang mắt cá chân/sàn nhà.
Thông thường, tóc cần khoảng hai năm để dài đến vai, và khoảng bảy năm để dài đến eo/hông, bao gồm việc cắt tỉa thường xuyên (khoảng 80–90 cm từ trán đối với hầu hết mọi người).
Độ dài tối đa.
Độ dài tối đa mà tóc có thể đạt được là khoảng 15 cm đối với trẻ sơ sinh (dưới 1 tuổi), khoảng 60 cm đối với trẻ em và thường là 100 cm đối với người lớn. Một số người có thể đạt được độ dài tóc vượt trội. Độ dài tóc hơn 150 cm thường được nhìn thấy trong các cuộc thi tóc dài.. Tạ Thu Bình (謝秋萍, "Xie Qiuping") có mái tóc dài nhất được ghi nhận trên thế giới, đo được 5,627 mét vào tháng 5 năm 2004.
Độ dài tóc tối đa phụ thuộc vào độ dài của giai đoạn anagen (giai đoạn tóc mọc) của từng cá nhân. Tóc dài ngang eo hoặc dài hơn chỉ có thể đạt được đối với những người có giai đoạn anagen dài. Giai đoạn anagen kéo dài từ 2 đến 7 năm, đối với một số cá nhân thậm chí còn lâu hơn, và được theo sau bởi các giai đoạn catagen (chuyển đổi) và telogen (nghỉ ngơi) ngắn hơn. Tại bất kỳ thời điểm nào, khoảng 85% sợi tóc đang ở giai đoạn anagen. Gen yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi 5 (FGF5) ảnh hưởng đến chu kỳ tóc ở động vật có vú bao gồm cả con người; chặn FGF5 ở da đầu người (bằng cách sử dụng chiết xuất thảo dược chặn FGF5) sẽ kéo dài chu kỳ tóc, dẫn đến ít rụng tóc và tóc mọc nhiều hơn.
Lịch sử văn hóa.
Hy Lạp và La Mã cổ đại.
Ở Hy Lạp cổ đại, tóc dài của nam giới là biểu tượng của sự giàu có và quyền lực, trong khi đầu trọc là phù hợp với một nô lệ. Người Hy Lạp cổ đại có một số vị thần và anh hùng để tóc dài, bao gồm Zeus, Achilles, Apollo và Poseidon. Lính Hy Lạp được cho là đã để tóc dài trong trận chiến. Những chiến binh như vậy coi đó là dấu hiệu của quý tộc và được cho là đã chải tóc công khai để khoe mẽ. Ngoài ra, để kẻ thù không nắm được tóc của mình trong trận chiến, họ được biết là đã cắt ngắn phía trước, nhưng để dài phía sau, nơi nó ít bị với tới hơn (mullet). Một cách giải thích thay thế phổ biến cho niềm tin thông thường là họ để tóc dài và chỉ đơn giản buộc lại thành kiểu tóc được gọi là đuôi ngựa để tránh xa tầm với của kẻ thù. Phương pháp đuôi ngựa cho phép các chiến binh, những người thường di chuyển đến chiến trường với lượng trang bị tối thiểu để họ có thể tránh tải trọng quá nặng trong các cuộc hành quân dài, để tóc của họ dễ quản lý với một đoạn dây nhỏ để giữ nó tại chỗ và một con dao để cắt ngắn phần sau bằng một nhát. Tuy nhiên, vào khoảng thế kỷ thứ 6, nam giới Hy Lạp đã chuyển sang kiểu tóc ngắn hơn, ngoại trừ người Sparta. Phụ nữ trong văn hóa giữ kiểu tóc dài hơn, đối với họ, nó thể hiện sự tự do, sức khỏe và giàu có, cũng như hành vi tốt. Ở nam giới, tóc dài vào thời điểm này được coi là dấu hiệu của lòng kiêu hãnh giả tạo.
Pliny Già trong tác phẩm "Lịch sử tự nhiên" và Varro đã đề cập rằng người La Mã không bắt đầu cắt tóc ngắn cho đến khi thợ cắt tóc được giới thiệu đến Ý từ Sicily bởi P. Ticinius Mena vào năm 299 trước Công nguyên. Phụ nữ trong thời La Mã coi trọng mái tóc dài, thường có phần giữa. Ngoài thời kỳ đầu, tóc của nam giới thường ngắn hơn tóc của phụ nữ, mặc dù các nền văn hóa khác thời bấy giờ, chẳng hạn như người Hy Lạp ở phương đông, coi tóc dài là đặc trưng của các nhà triết học, những người được cho là quá bận rộn với việc học tập để bận tâm đến tóc. Tuy nhiên, nghiêm ngặt trong tỉnh của Rome, kiểu tóc ngắn đặc biệt phổ biến. Khi Julius Caesar chinh phục người Gauls, những người ưa thích tóc dài, ông đã ra lệnh cắt ngắn tóc của họ.
Ở châu Âu thời Trung cổ, tóc ngắn thường biểu thị cho tình trạng nô lệ và nông dân, trong khi tóc dài thường được gán cho những người tự do, như trường hợp của những bộ tộc Germanic người Goth và Merovingian.
Người Ireland Gaelic (cả nam và nữ) rất tự hào về mái tóc dài của họ—ví dụ, một người có thể bị phạt nặng nếu cắt tóc ngắn của đàn ông khi không có sự đồng ý của họ. Khi người Anglo-Norman và người Anh xâm chiếm Ireland, độ dài tóc trở thành biểu tượng cho lòng trung thành của một người. Những người đàn ông Ireland cắt tóc ngắn được coi là đang từ bỏ di sản Ireland của họ. Tương tự, những người thực dân Anh để tóc dài ở phía sau được coi là đang từ bỏ vai trò của mình là thần dân Anh và theo đuổi cuộc sống của người Ireland. Vì vậy, độ dài tóc là một trong những cách phổ biến nhất để đánh giá một người đàn ông Anh thực sự trong thời kỳ này. Người Hồi giáo ở các khu vực Cơ đốc giáo được lệnh phải để tóc ngắn và rẽ ngôi, vì kiểu tóc dài hơn của họ được coi là phản nghịch và man rợ.
Truyền thống tóc dài phổ biến ở nam giới Anh và Pháp vào thế kỷ 11 và 12, mặc dù tóc ngắn hơn cũng được coi là chấp nhận được, chủ yếu là do sự chấp thuận của Giáo hội Công giáo La Mã. Truyền thống này phần lớn được tạo ra bởi các vị vua từ chối kiểu tóc ngắn hơn, khiến người dân noi theo. Wulfstan, một nhà lãnh đạo tôn giáo, lo lắng rằng những người có tóc dài sẽ chiến đấu như phụ nữ và không thể bảo vệ Anh khỏi sự xâm lược của nước ngoài. Những ý tưởng tương tự cũng có thể được tìm thấy ở các nhà lãnh đạo quân sự sau này, chẳng hạn như ở Liên minh miền Nam Hoa Kỳ. Các hiệp sĩ và người cai trị cũng đôi khi cắt hoặc nhổ tóc để tỏ lòng hối cải và thương tiếc, và tóc của một người hầu thường được cắt ngắn hơn tóc của một hiệp sĩ. Phụ nữ đã kết hôn để tóc buông xõa ở nơi công cộng bị mọi người phản đối, vì điều này thường dành riêng cho những người chưa kết hôn, mặc dù họ được phép để tóc buông xõa trong tang lễ, để thể hiện trạng thái đau buồn của họ. Trong những thế kỷ này, người ta mong đợi các Cơ đốc hữu phương Đông cũng để tóc dài và râu dài, đặc biệt là đối với các giáo sĩ và tu sĩ.
Vào thời Nội chiến Anh từ năm 1642 đến 1651, độ dài tóc của nam giới ở Anh là biểu tượng cho sự tranh chấp giữa Cavaliers và Roundheads (Puritans). Cavaliers để tóc dài hơn và ít theo đạo hơn, được Roundheads coi là những kẻ dâm dật. Ngược lại, Roundheads ngoan đạo hơn thường có mái tóc ngắn hơn.
Cũng vào khoảng thời gian này, tóc dài ở Anh cũng được liên tưởng đến những nhà thám hiểm đã đến Mỹ và quen thuộc với văn hóa bản địa ở đó, tóc ngắn được liên tưởng đến những người ít mạo hiểm hơn.
Xu hướng thời trang tóc nữ trong thế kỷ 20 và 21.
Tóc dài ở phụ nữ phổ biến ở phương Tây cho đến Thế chiến thứ nhất. Tóc dài của phụ nữ không bao giờ biến mất trong văn hóa phương Tây, mặc dù nó rất hiếm trong những năm 1920 và 1930.
Ở hầu hết các nền văn hóa hiện đại, phụ nữ để tóc dài phổ biến hơn nam giới. Một nghiên cứu của Mỹ cho thấy có mối tương quan đáng kể giữa độ dài tóc và tuổi tác, điều này chỉ ra rằng phụ nữ trẻ tuổi có xu hướng để tóc dài hơn phụ nữ lớn tuổi. Một mối tương quan đáng kể cũng được tìm thấy giữa độ dài tóc và chất tóc của phụ nữ. Hơn nữa, chất tóc có mối tương quan với sức khỏe thể chất được nhận thức của phụ nữ. Phù hợp với các nguyên tắc của tâm lý tiến hóa, những kết quả này chỉ ra rằng độ dài và chất tóc có thể đóng vai trò như một tín hiệu cho thấy tuổi trẻ và sức khỏe của phụ nữ, nghĩa là khả năng sinh sản. Tuy nhiên, mối tương quan giữa độ dài tóc của phụ nữ và tình trạng hôn nhân hoặc số con không đáng kể hơn so với mối tương quan giữa độ dài tóc và tuổi tác.
Xu hướng tóc nam trong thế kỷ 20 và 21.
Trong thế kỷ 19, độ dài tóc của nam giới trong các nền văn hóa phương Tây rất khác nhau tùy theo quốc tịch, nghề nghiệp, tuổi tác, địa vị xã hội và thời trang. Tuy nhiên, trước Thế chiến thứ nhất, râu hầu hết đã được thay thế bằng ria mép và tóc thường được cắt ngắn đến trung bình. Tuy nhiên, tóc ngắn ở nam giới đã được giới thiệu trong Thế chiến thứ nhất cho binh lính. Chiến tranh chiến hào diễn ra từ năm 1914 đến 1918 đã khiến con người phải đối mặt với nguy cơ bị bọ chét và chấy xâm nhập, điều này đã khiến cấp trên ra lệnh cắt ngắn tóc, tạo ra một truyền thống quân sự mới.
Các nhà thơ Beat trong những năm 1950 đã để kiểu tóc dài hơn. Ngoài ra, nam giới và trẻ em trai thời điểm này đều có mái tóc ngắn gọn gàng, và để tóc dài hơn bị đánh giá thấp. Đến năm 1960, một cộng đồng "beatnik" nhỏ ở Newquay, Cornwall, Anh (bao gồm cả Wizz Jones trẻ tuổi) đã thu hút sự chú ý của hàng xóm vì để tóc dài quá vai, dẫn đến cuộc phỏng vấn trên truyền hình với Alan Whicker trong chương trình Tonight của BBC. Những năm 1960 cũng giới thiệu The Beatles, những người đã bắt đầu xu hướng tóc dài phổ biến hơn. Cuộc cách mạng xã hội của những năm 1960 đã dẫn đến sự hồi sinh của việc mọc tóc không kiểm soát, và tóc dài, đặc biệt là ở nam giới, được để như một biểu tượng hoặc phản đối chính trị hoặc phản văn hóa và như một biểu tượng của nam tính. Biểu tượng văn hóa này lan rộng đến một số quốc gia ở châu Mỹ, Tây Âu, Nam Phi và Úc. Xu hướng này thậm chí còn lan sang một số nước thuộc khối Đông Âu, chẳng hạn như nền văn hóa phụ Mánička của Tiệp Khắc, vốn bị chính quyền phân biệt đối xử vì họ coi đó là ảnh hưởng tư bản chủ nghĩa phương Tây không mong muốn. Các kiểu tóc dài cụ thể như dreadlocks đã trở thành một phần của các phong trào phản văn hóa tìm cách xác định các nền văn hóa và lối sống thay thế khác kể từ thời điểm này. Tóc dài nói chung vẫn phổ biến do sự nổi loạn của giới trẻ trong suốt thập kỷ tự do của những năm 1960. Xu hướng tóc dài phát triển cùng với sự lan rộng của phong trào hippie trong những năm 1960 và vào những năm 1970, kiểu tóc dài hơn sẽ trở thành tiêu chuẩn ở nam giới và phụ nữ.
Trong những năm 1970, sự phổ biến của nhạc reggae Jamaica và nhạc sĩ Bob Marley đã thúc đẩy sự quan tâm đến dreadlocks trên toàn thế giới. Triết lý chống lại sự thành lập của Rastafari, được thể hiện trong nhiều nhạc reggae thời bấy giờ, đã cộng hưởng với những người trẻ tuổi thiên tả thuộc mọi sắc tộc - đặc biệt và chủ yếu trong số người Mỹ gốc Phi và những người da đen khác, nhưng cũng trong số những người da trắng thuộc nền văn hóa phụ. Trong những năm 1980, quan điểm về tóc dài như một dấu hiệu duy nhất của bản sắc chính trị hoặc phản văn hóa đã bị phản đối và chế giễu trong các bộ phim như Rambo và nhiều anh hùng quân sự khác của phương tiện truyền thông thách thức quan điểm đương thời về truyền thống. Trong những năm 2000, kiểu tóc dài hơn ở nam giới trở nên phổ biến trong giới tân ngoại giáo và những người đam mê nhạc rock; ví dụ, các nhạc sĩ trong các ban nhạc metal và người hâm mộ của họ thường để tóc dài. Tóc dài có thể được nuôi dưỡng để quyên góp cho một tổ chức, chẳng hạn như Locks of Love, cung cấp tóc giả để giúp đỡ những người không thể có tóc nếu không, chẳng hạn như những người được chẩn đoán mắc bệnh alopecia areata. Ngày nay, tóc dài đã trở nên phổ biến hơn nữa. Ngay cả trong số những người đàn ông chính thống, việc để tóc dài đến lưng trên cũng được xã hội chấp nhận. Điều này một phần có thể là do xu hướng "man bun" nơi nam giới buộc tóc dài đến vai hoặc dài hơn của họ thành một búi tóc trên đỉnh đầu.
Người Mỹ bản địa.
Nhiều người đàn ông Mỹ bản địa để tóc dài trước khi các ảnh hưởng của phương Tây đến nền văn hóa của họ. (Ví dụ, trong truyền thuyết của người Cherokee, nam giới được cho là đẹp trai thường được mô tả là có "mái tóc dài gần chạm đất" hoặc những cụm từ tương tự.) Cả nam và nữ của những nền văn hóa này thường xuyên phải đấu tranh để duy trì truyền thống của mình nhưng đã phải đối mặt với sự phản đối gay gắt. Nhiều người coi đó là biểu hiện của việc nhượng bộ ảnh hưởng của phương Tây khi cắt tóc của họ. Những người định cư Mỹ đầu tiên đã coi những người đàn ông bản địa tóc dài là những kẻ nổi loạn chống lại xã hội văn minh của họ. Những người đàn ông núi và thợ săn bẫy thú đã nhận nuôi phong tục này cũng được coi là vô đạo đức và thường được xác định bởi mái tóc dài của họ. Tuy nhiên, kể từ các phong trào văn hóa của những năm 1960 và 1970, người Mỹ bản địa đã cảm thấy ít áp lực hơn khi phải cắt tóc ngắn, vì các phong trào khác nhau đã bảo vệ quyền văn hóa của họ. Ví dụ, một số tiểu bang đã nới lỏng quy định của nhà tù, cho phép người Mỹ bản địa để tóc dài trong thời gian bị giam cầm, cùng với các khoản trợ cấp văn hóa khác.
Người Mỹ gốc Phi.
Khi nô lệ châu Phi được giải phóng ở Mỹ, họ đã phải đấu tranh để đạt được vị thế xã hội của người da trắng. Nhiều cựu nô lệ đã cố gắng thay đổi kiểu tóc của họ như một phần của cuộc đấu tranh này. Đặc biệt, phụ nữ cảm thấy áp lực phải làm cho tóc của họ thẳng, thay vì giữ kiểu tóc xoăn chặt mà họ đã biết. Tuy nhiên, trong phong trào đòi quyền công dân của những năm 1950 và 1960, những người Mỹ gốc Phi như Malcolm X đã ủng hộ những kiểu tóc như Afro và dreadlock, để tôn vinh chủng tộc của họ và quay trở lại cội nguồn Tây Phi.
Áp lực xã hội thời bấy giờ đã ảnh hưởng rất lớn đến những phụ nữ Mỹ này để họ có mái tóc thẳng như người da trắng. Điều này dẫn đến phong trào Black is beautiful, trong đó người Mỹ gốc Phi để tóc dài tự nhiên không qua xử lý và không chỉnh sửa. Gần đây hơn, nối tóc đã trở nên phổ biến. Một số học giả cho rằng vẫn có áp lực đối với phụ nữ da đen phải có mái tóc thẳng mượt. Amelia Jones cho rằng những con búp bê dành cho trẻ em, chẳng hạn như búp bê Barbie, càng làm tăng thêm áp lực này, và lấy ví dụ về một con búp bê Barbie da đen mới với mái tóc thẳng. Cô tin rằng người da đen nên được là chính mình mà không cảm thấy áp lực phải "thuần hóa" mái tóc của mình.
Bắc Mỹ đương đại.
Năm 1972, ước tính có 24% phụ nữ Mỹ để tóc dài ngang vai hoặc dài hơn (44% phụ nữ trong độ tuổi từ 14 đến 44), nghĩa là tổng cộng có hơn 12% nam giới và phụ nữ. Tần suất tương tự được tìm thấy vào năm 2001, khi ước tính khoảng 13% dân số trưởng thành của Hoa Kỳ, cả nam và nữ, có tóc dài ngang vai hoặc dài hơn, khoảng 2,4% có tóc dài đến tận vai hoặc dài hơn, khoảng 0,3% có tóc dài ngang eo hoặc dài hơn và chỉ khoảng 0,017% có tóc dài đến tận mông hoặc dài hơn.
Ước tính có 27 triệu người có tóc dài ngang vai hoặc dài hơn ở Mỹ, khoảng 900.000 người có tóc dài đến eo, khoảng 40.000 người có tóc dài đến mông, khoảng 2.000 người có tóc dài đến đầu gối và khoảng 70 người có tóc dài đến mắt cá chân.
Các dữ liệu khác ước tính rằng 2–3% nam giới Mỹ có tóc dài và thêm 2% có tóc dài vừa phải, nghĩa là 95–96% có tóc ngắn. Ngoài ra, người ta ước tính rằng 24% phụ nữ có tóc dài và 43% có tóc trung bình, nghĩa là 33% có tóc ngắn. Xét rằng nam giới chiếm 49,2% dân số Mỹ và phụ nữ chiếm 50,8%, sự phân chia ước tính chiều dài tóc theo giới tính ở người Mỹ là 47% nam giới có tóc ngắn, 22% phụ nữ có tóc trung bình, 17% phụ nữ có tóc ngắn, 12% phụ nữ có tóc dài, 1% nam giới có tóc dài và 1% nam giới có tóc trung bình. Điều này có nghĩa là tổng cộng có 64% người có tóc ngắn, 23% người có tóc trung bình và 13% người có tóc dài.
Trên khắp nhiều vùng ở Châu Phi, tóc afro là loại tóc phổ biến nhất, ngoại trừ trong số những người nói tiếng Afro-Asiatic (Hamito-Semitic) ở Bắc Phi và Sừng Châu Phi. Ở những khu vực sau, tóc dài tự nhiên phổ biến hơn.
Trong các nền văn hóa Tây Phi, phụ nữ có mái tóc dài được đánh giá rất cao. Tóc dài, dày được coi là dấu hiệu của sức khỏe, sức mạnh và khả năng sinh nhiều con. Để phù hợp với chủ đề chung này, những phụ nữ chưa đến tuổi kết hôn sẽ cạo một phần đầu để báo hiệu như vậy. Tuy nhiên, truyền thống này không kéo dài đến mọi nền văn hóa Tây Phi, vì một số nền văn hóa lại đánh giá cao mái tóc ngắn hơn.
Trong lịch sử, các nền văn hóa Đông Á coi tóc dài là biểu tượng của tuổi trẻ và vẻ đẹp thẩm mỹ. Tóc dài gắn liền với đời sống riêng tư và tình dục. Các nền văn hóa Đông Á coi mái tóc dài, không chải chuốt ở phụ nữ là dấu hiệu của ý định tình dục hoặc cuộc gặp gỡ tình dục gần đây, vì thông thường tóc của họ được buộc lên. Phật tử tại gia có tóc dài, trong khi các nhà sư Phật giáo cạo đầu.
Ở Trung Quốc và Hàn Quốc cổ đại, tóc được coi là một di sản quý giá từ cha mẹ. Hầu hết mọi người sẽ không bao giờ cắt tóc sau khi trưởng thành và việc cắt tóc là một hình phạt cho những tội nhẹ. Cả nam và nữ đều búi tóc và nhiều kiểu búi tóc đã được phát triển.
Bắt đầu từ năm 1619, triều đại nhà Thanh của người Mãn Châu đã buộc tất cả nam giới ở Trung Quốc phải áp dụng kiểu tóc bím tóc: một bím tóc dài ở phía sau với tóc gần trán được cạo hoàn toàn. Chiều dài và kiểu tóc trở thành vấn đề sống còn vào năm 1645 khi người Mãn Châu nói với họ rằng tóc hoặc đầu của họ sẽ bị cắt. Hầu như mọi nhóm phiến quân nhà Hán đều bắt đầu bằng cách cắt bím tóc này (đặc biệt là trong trường hợp Thái Bình Thiên quốc, những người được gọi bằng tiếng Trung Quốc là "Tóc dài"), nhưng kiểu tóc bím tóc với hình phạt tử hình kéo dài cho đến năm 1911, khi người Trung Quốc cắt bím tóc cùng nhau vào thời điểm nổi loạn. Ban đầu, người Mỹ đánh giá những người lao động nhập cư Trung Quốc là những công nhân nghèo vì mái tóc dài của họ khiến họ liên tưởng đến phụ nữ.
Các nhà truyền giáo Hồi giáo và Cơ đốc giáo trong số người Trung Quốc là những người ủng hộ mạnh mẽ kiểu tóc ngắn hơn cho nam giới cải đạo của họ. Khoảng thời gian Phá hủy bốn điều cũ vào năm 1964, hầu như bất cứ thứ gì được coi là một phần của văn hóa Trung Quốc truyền thống đều có thể dẫn đến rắc rối với Hồng vệ binh cộng sản. Những món đồ thu hút sự chú ý nguy hiểm nếu bị bắt gặp ở nơi công cộng bao gồm đồ trang sức và tóc dài của nam giới. TNhững thứ này được coi là biểu tượng của lối sống tư sản, đại diện cho sự giàu có. Mọi người phải tránh chúng hoặc phải chịu những hậu quả nghiêm trọng như bị tra tấn và đánh đập bởi các vệ binh. Gần đây hơn, tóc dài đã bị chế giễu ở Trung Quốc từ tháng 10 năm 1983 đến tháng 12 năm 1983, như một phần của Chiến dịch chống ô nhiễm tinh thần ngắn ngủi và không thành công.
Ngoài ra, trong thơ ca cổ và hiện đại Trung Quốc, tóc dài là một biểu tượng phổ biến được các nhà thơ sử dụng, chẳng hạn như Lý Bạch và Lý Thương Ẩn, để thể hiện nỗi buồn và u uất của họ.
Ở Đông Nam Á và Indonesia, tóc dài của nam giới được đánh giá cao cho đến thế kỷ 17, khi khu vực này tiếp thu các ảnh hưởng bên ngoài bao gồm Hồi giáo và Cơ đốc giáo. Các nền văn hóa xâm lược cũng áp đặt kiểu tóc ngắn hơn cho nam giới như một dấu hiệu của sự phục tùng. Họ cũng bối rối bởi kiểu tóc ngắn của phụ nữ ở một số khu vực, chẳng hạn như Thái Lan, và cố gắng giải thích lý do tại sao phụ nữ trong khu vực lại có mái tóc ngắn như vậy. Họ đã nghĩ ra một số câu chuyện thần thoại, trong đó có câu chuyện về một vị vua tìm thấy một sợi tóc dài trong bát cơm của mình và trong cơn thịnh nộ đã yêu cầu tất cả phụ nữ phải cắt tóc ngắn.
Ở Ấn Độ, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, các bé gái và phụ nữ trẻ thường để tóc rất dài, thường dài đến hông hoặc đùi. Tóc dài ở Ấn Độ được coi là một phần thiết yếu của người phụ nữ.
Ở Nhật Bản thời trung cổ, đàn ông thời Heian không mấy quan tâm đến vẻ đẹp thể chất của phụ nữ và hiếm khi có cơ hội nhìn thấy nó. Đặc điểm ngoại hình duy nhất được quan tâm là mái tóc của phụ nữ, phải dày và dài hơn cả cô ấy.
Trong Cựu Ước, người Na-xi-rê sẽ không cắt tóc trong một thời gian dài để thể hiện lòng sùng kính đối với Đức Chúa Trời. Samson là một ví dụ; sức mạnh của anh phụ thuộc vào việc anh không cắt tóc, được mô tả là được bện "bảy lọn".
Do Thái giáo Chính thống giáo nghiêm cấm nam giới cắt tóc mái, nhưng các kiểu tóc khác có thể được giữ theo ý muốn. Tóc không được cắt trong thời gian tang tóc. Sách Phục truyền luật lệ ký 14:1 của Torah cấm việc cạo tóc để tang người chết.
Trong quá khứ, người Bedouin theo đạo Hồi thường để tóc dài và tết thành bím, nhưng ảnh hưởng từ phương Tây đã khiến thái độ của họ thay đổi. Người Bedouin hiện nay ít có khả năng để tóc dài hơn. Các nước Hồi giáo ở Bắc Phi như Ai Cập coi mái tóc dài của nam giới là hiện đại và trong một trường hợp, cảnh sát Ai Cập coi đó là dấu hiệu của Satan và của một kẻ ngoại đạo. Các nhà cai trị Tây Ban Nha trong thời Trung cổ nghi ngờ những người đàn ông tóc dài là người Moor hoặc Morisco, do đó, tóc dài bị cấm vì người ta tin rằng đó là một phong tục của người Moor. Tuy nhiên, đàn ông Bắc Phi hiện đại đã cắt tóc ngắn theo kiểu phương Tây.
Người Hồi giáo coi Muhammad là tấm gương tốt nhất để sống theo, và cố gắng noi theo ông bất cứ khi nào có thể. Muhammad được báo cáo trong Sahih Muslim có mái tóc "dài qua vai và dái tai". Sahih Bukhari, được coi là cuốn sách hadith xác thực nhất, cũng hỗ trợ điều này bằng cách sử dụng ví dụ chính về Isa (Jesus). Muhammad cũng miêu tả Jesus là "có mái tóc dài ngang dái tai." Malik's Muwatta 51.2.6 báo cáo, Yahya kể cho tôi từ Malik từ Yahya ibn Said rằng Abu Qatada al-Ansari nói với Sứ giả của Allah, xin Allah ban phước cho ông và ban cho ông sự bình an, "Tôi có rất nhiều tóc dài đến vai, tôi có nên chải nó không?" Sứ giả của Allah, xin Allah ban phước cho ông và ban cho ông sự bình an, nói, "Có, và hãy tôn vinh nó." Đôi khi Abu Qatada còn bôi dầu cho tóc hai lần trong một ngày vì Sứ giả của Allah, xin Allah ban phước cho ông và ban cho ông sự bình an, đã nói với ông ấy. "Hãy tôn vinh nó."
Đối với phụ nữ, cả Kinh Qur'an hay Sunnah đều không nói rõ rằng phụ nữ không thể cắt tóc. Hadith có đề cập rằng phụ nữ không nên bắt chước đàn ông, và ngược lại, và do đó, nhiều học giả dựa trên giả định này, quy định rằng phụ nữ nên để tóc dài hơn tóc của Muhammad, dài hơn vai, vì hadith có đề cập rằng Muhammad có mái tóc giữa vai và dái tai của mình. (Ông miêu tả mái tóc của Jesus, dài đến tận dái tai, là dài.)
Tuy nhiên, theo một số hadith liên quan đến các quy tắc về awrah, phụ nữ được yêu cầu để tóc dài, đủ dài để che ngực hoặc các bộ phận awrah của cơ thể khi họ được chôn cất, vì cô ấy không có quần áo và tóc dài sẽ được sử dụng làm vật che phủ thay thế.
Một số người Hồi giáo cũng phản đối việc nam giới có tóc dài vì trong đạo Hồi, điều quan trọng là phải có sự khác biệt rõ ràng (về ngoại hình) giữa hai giới tính. Nói chung, những nền văn hóa này khuyến khích phụ nữ có tóc dài và nam giới có tóc ngắn. Taliban ở Afghanistan coi tóc dài của nam giới là ảnh hưởng của phương Tây và đã trừng phạt điều này bằng cách bắt giữ và cắt tóc cưỡng bức, Mặc dù điều này sẽ mâu thuẫn trực tiếp với sunnah của Muhammad. Các biện pháp tương tự đã được các chiến binh Hồi giáo ở Iraq thực hiện. Mặc dù vậy, một số thành viên của bộ tộc Mehsud liên kết với Taliban vẫn có thể nhận ra họ bằng mái tóc dài của họ. Chiến binh Hồi giáo Saudi Amir Khattab cũng nổi tiếng với mái tóc dài của mình. Những người theo đạo Dervish của một số giáo phái Sufi, chẳng hạn như Kasnazani, thường có mái tóc dài và xoay nó trong các nghi lễ.
Đối với người Sikh, Kesh là tập tục để tóc mọc tự nhiên vì tóc dài được coi là một hukam/lệnh của Satguru/Thánh. |
Phật-đà-bạt-đà-la (, sa. "Buddhabhadra"; 359-429), hay Giác Hiền (觉贤), là một Thiền sư Ấn Độ và là luật sư Luật tạng. Ông được biết đến nhiều nhất nhờ nỗ lực dịch thuật nhiều kinh văn Phật giáo từ tiếng Phạn sang chữ Hán và chịu trách nhiệm về bản dịch Hán ngữ đầu tiên của Kinh Hoa Nghiêm ("Avataṃsaka Sūtra)" vào thế kỷ thứ 5. Ở Trung Quốc, ông thường được gọi là Thiên Trúc Thiền sư (天竺禪師).
Buddhabhadra thuộc dòng dõi hậu duệ của thị tộc Śākya, sinh ra ở Nagarahara (nay thuộc Jalal-Ābād), một trung tâm nổi tiếng của phái Nhất thiết hữu bộ ("Sarvastivada") vào thời điểm đó. Thời trẻ, Sư theo học thiền sư người Kashmiri Buddhasena, một Sarvastivadin và thiên Đại thừa. Buddhabhadra nhanh chóng thành thạo về giới luật (Vinaya) và thiền định. Sư được một tăng nhân Hậu Tần là Trí Nghiêm (智嚴; 350-427) mời sang Trung Quốc. Khi đến kinh đô Trường An vào năm 406–408, Buddhabhadra kết bạn với Kumārajīva và tham gia vào một cuộc tranh luận công khai với ông do Hoàng tử Hóng đề xướng, được ghi lại trong các nguồn sử liệu Trung Quốc. Buddhabhadra nhanh chóng trở nên nổi tiếng với tư cách là một thiền sư. Nhóm của Kumārajīva và nhóm của Buddhabhadra cuối cùng đã phát triển sự cạnh tranh dẫn đến việc Buddhabhadra bị trục xuất khỏi Trường An (khoảng năm 410).
Thời gian ở Lư Sơn, Buddhabhadra đã dịch một số sách hướng dẫn thiền theo yêu cầu của Đại sư Huệ Viễn, gồm Đạt-ma-đa-la thiền kinh ("Dharmatrātadhyāna", 達磨多羅禪經, T618) và Quán Phật tam-muội hải kinh ("Buddhânusmṛtisamādhisāgara", 觀佛三昧海經 T 643).
Sau khi rời Lư Sơn, Buddhabhadra và các đệ tử chuyển đến chùa Đạo Trường (道場寺), nơi Buddhabhadra tiếp tục dạy về Thiền. Không lâu sau, Pháp Hiển cũng đến. Chính tại đây, Buddhabhadra và nhóm của ông (bao gồm các đệ tử Trung Quốc như Bǎoyún, Huìguān, Zhìyán) cùng với Pháp Hiển, đã dịch hầu hết kinh điển được cho là của Buddhabhadra.
Buddhabhadra và nhóm của ông đã dịch quyển Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh ("Avataṃsaka-sūtra", T 278) gồm 60 tập . Ngoài ra, nhóm của Buddhabhadra cũng đã biên soạn các bản dịch Ma-ha-tăng-kỳ luật ("Mahāsāṃghika-vinaya"; T 1425)", Niết-bàn kinh ("Mahāparinirvāṇa-sūtra"; T 376, dịch cùng với Pháp Hiển)", Như Lai tạng kinh ("Tathāgatagarbha sūtra"; T 666) và Phật thuyết Vô lượng thọ kinh ("Sukhāvatīvyūha sūtra"; T 360).
Buddhabhadra viện tịch vào năm Nguyên Gia thứ 6 nhà Lưu Tống (429), thọ 71 tuổi.
Tác phẩm của Buddhabhadra có ảnh hưởng lớn đến Phật giáo Hán truyền sau này. Sách hướng dẫn thiền của ông và các đệ tử (Trí Yến, Huệ Quan, Bảo Vân, Huyền Cao và Đàm Dao) đã ảnh hưởng đến việc thực hành thiền định của Phật giáo Trung Quốc, và sự phổ biến của việc xây dựng các hang động thiền định như Hang đá Vân Cương, Hang đá Mạch Tích Sơn và Hang động chùa Bình Linh. Bản dịch "kinh Hoa nghiêm" của ông cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của truyền thống chú giải Hoa nghiêm ban đầu mà theo thời gian sẽ phát triển thành Phật giáo Hoa Nghiêm, trong khi bản dịch kinh Vô lượng thọ của ông cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của Phật giáo Tịnh độ.
Học trò của Buddhabhadra là Huyền Cao (玄高, c. ?-444) là một thiền sư quan trọng ở Bắc Lương, người tập trung vào thực hành quán tưởng Đức Phật và thực hành "Thiền Hoa Nghiêm". Truyền thống Huyền Cao này (tập trung quanh khu vực động Bình Linh) đã được các học giả như Imre Hamar coi là tiền đề cho trường phái Hoa Nghiêm đúng nghĩa. Hơn nữa, Hamar đưa ra giả thuyết rằng Huyền Cao cùng với đạo sư Daorong đã hợp tác để biên soạn các kinh ngụy tác "Phạm võng kinh" (梵網經; T1484) và "Bồ-tát anh lạc bản nghiệp kinh" (菩薩瓔珞本業經; T1485) đứng đầu thời kỳ này. sự phát triển của truyền thống Hoa Nghiêm.
Các văn bản thiền định của Buddhabhadra cũng ảnh hưởng đến Phật giáo Thiền, và một số phương pháp của chúng đã bị chỉ trích bởi các nguồn sau này như Hà Trạch Thần Hội và các tác giả của "Lịch đại pháp bảo ký" (歷代法寶記). |
Nicholas Dimitri Constantine Galitzine sinh ngày 29 tháng 09 năm 1994 tại Hammersmith, London, Anh. Anh mang họ Galitzine, gốc là Golitsyn, được hiểu là "Gia tộc Golitsyn" thuộc dòng dõi Hoàng gia Liên Xô.
Cha của Nicholas, ông Geoffrey Leo Alexander Galitzine là dân kinh doanh và nhân viên tài chính tại London, hoạt động trong mảng tái chế thủy tinh. Mẹ của anh thuộc dòng máu Mỹ -Hy Lạp. Chị gái của Nick, Lexi Galitzine, là kỹ sư thiết kế đồ họa mảng nội thất.
Thuở nhỏ, Nick học tại trường nội trú Dulwich College, hoạt động trong câu lạc bộ bóng bầu dục và bóng đá, thi đấu các trận đấu cấp quận tại London. Anh là thành viên của "Harlequin Football Club" và ngưng thi đấu sau chấn thương cơ chóp vai.
Ngoài ra anh còn có năng khiếu trong việc chơi các loại đàn như đàn guitar, dương cầm, vĩ cầm, ca hát, cưỡi ngựa và boxing.
Vai diễn đầu tiên của Nick là bộ phim "The Beat Beneath My Feet" (2014) do Luke Perry đóng chính, đồng thời tham gia thu âm các bản soundtrack của bộ phim này.
Năm 2015, anh góp mặt trong 1 tập của series Legends, được tạp chí gọi là "Ngôi sao triển vọng". Năm 2016, anh tham gia vai chính của bộ phim Mỹ "High Strung", trong vai nghệ sĩ violin trẻ thường đứng diễn tại một trạm tàu điện ngầm. Anh đóng vai một cậu học sinh gay kín trong một comedy Ireland "Handsome Devil", bộ phim này được đề cử 15 giải thưởng tại Liên hoan Phim Truyền hình Ireland lần thứ 15.
Năm 2017, anh tham gia phim huyền bí của New Zealand "The Changeover." Trong bộ phim "The Watcher in the Woods," anh diễn cùng nữ diễn viên người Mỹ Anjelica Huston từng đạt giải Oscar. Lần đầu tiên anh đóng vai chính phim truyền hình trong series kinh dị của Netflix "Chambers". Năm 2019, anh tham gia bộ phim "Share".
Năm 2020, and đóng vai cậu nhóc tuổi teen bisexual Timmy trong "," phần mở rộng của "The Craft". Năm 2021, anh đóng vai "Prince Robert" trong nhạc kịch "Cinderella", xuất hiện trong 7 soundtrack của vở kịch. Ca khúc debut "Comfort" của anh ra mắt vào ngày 24 tháng Sáu năm 2022. Anh tham gia vào bộ phim Netflix "Purple Heart," ra mắt vào 29 tháng 07 năm 2022.
Năm 2023, Nick với vai trò 1 trong 2 nam chính của bộ phim LGBT tình cảm lãng mạn "Red, White, and Royal Blue" (dựa trên tiểu thuyết gốc cùng tên năm 2019), đóng vai Hoàng tử Anh Henry, cùng với bạn diễn Taylor Zakhar Perez.
Anh đóng cùng Anne Hathaway trong bộ phim "The Idea of You", trong vai thành viên của một ban nhạc nam. Anh cũng được chọn vào vai George Villiers trong series lịch sử "Mary George", cùng với Julianne Moore.
Năm 2023, Nicholas Galitzine được chọn là Đại sứ Toàn cầu đầu tiên về mảng Thời trang nam của thương hiệu thời trang cao cấp Fendi. |
Thành kiến về người Mỹ trắng
Thành kiến về người Mỹ trắng ("Stereotypes of white Americans") là những hình mẫu rập khuôn trong cách nhìn nhận về người Mỹ gốc Âu ở Hoa Kỳ (hay còn gọi là Người Mỹ da trắng hay người da trắng). Đó là những khái quát sai lệch về tính cách, hành vi hoặc ngoại hình của người Mỹ gốc Âu được nhìn nhận dưới con mắt của những người Mỹ khác ở Hoa Kỳ. Theo những cách nhìn nhận thành kiến này thì người Mỹ da trắng bị cho là tham lam, ham mê vật chất, thực dụng, phân biệt chủng tộc, họ sẽ không bao giờ là nạn nhân của những lời cay độc hay tội ác, căm thù, họ không văn vẻ ("rhythm") và thường xuất thân từ những gia đình giàu có. Sinh viên đại học người Mỹ da trắng bị cho là không chịu học hành, tiệc tùng mọi lúc mọi nơi và bị cho là chả biết gì về thế giới bên ngoài.
Đàn ông da trắng thường bị người thiểu số coi là phân biệt chủng tộc, tham lam, thực dụng, đặc quyền, kiêu ngạo và là những vũ công tồi. Phụ nữ da trắng bị coi là những con ngốc, hợm hĩnh, dễ dãi quan hệ, buông thả, phân biệt chủng tộc, nghiện mua sắm, không đáng tin, thiếu đức hạnh và định hướng nghề nghiệp. Trên các phương tiện truyền thông, người Mỹ da trắng thường bị coi là những người dân ngoại ô cổ cồn trắng thuộc tầng lớp trung lưu hoặc giàu có.
Đàn ông da trắng thường bị coi là tham vọng, kiêu ngạo, thông minh, phân biệt chủng tộc và thiếu hợp tác. Người Mỹ gốc Phi tin rằng người da trắng có mùi cơ thể khó chịu, không thích ôm con, hay tàng trữ, ích kỷ và không đáng tin cậy và chỉ thành công nhờ màu da trắng của họ mà thôi. Người Mỹ da trắng cũng bị coi là những người có đặc quyền đặc lợi, rất ích kỷ, ảo tưởng về những người khác ngoài bản thân mình và không có khả năng hiểu được cách tồn tại của các nhóm thiểu số và người da màu. Người da trắng cũng có đặc điểm là vũ công tệ và chơi bóng rổ tệ. Những định kiến tích cực về người Mỹ da trắng bao gồm việc họ là những người thông minh, đa dạng về mặt xã hội, không gây nguy hiểm và không có khả năng phạm tội. Định kiến tiêu cực về người da trắng là họ đều bị coi là phân biệt chủng tộc, thành kiến, thiên vị và thường cảm thấy sợ hãi hoặc bất an, khó chịu khi ở gần người thiểu số.
Nói chung, thành kiến về người da trắng miêu tả người Mỹ da trắng thuộc tầng lớp thượng lưu là WASP ("White Anglo-Saxon Protestants") và họ miêu tả người Mỹ da trắng thuộc tầng lớp thấp hơn là những kẻ lỗ mãng ""lạc hậu", "ít học hành"". Ngược lại, những người lỗ mãng bị coi là "phân biệt chủng tộc, nóng nảy, to xác, bạo lực, thô lỗ, ồn ào, xấu tính, thất học—và tự mãn về điều đó". Những định kiến khác về những kẻ lỗ mãng bao gồm sự loạn luân, lạm dụng các loại ma túy nặng như ma túy đá (Methamphetamine). Trong đại dịch COVID-19, phụ nữ da trắng thường được mệnh danh là người Karens theo những hình mẫu đặc trưng của họ trong khi thể hiện những hành vi không bình thường Tên tiếng lóng xuất phát từ tên chung của phụ nữ da trắng là Karen.
Một nghiên cứu ban đầu về hình mẫu của người da trắng được tìm thấy trong các tác phẩm hư cấu do các tác giả người Mỹ gốc Phi viết đã được thực hiện bởi nhà xã hội học người Mỹ gốc Phi Tilman C. Cothran vào năm 1950. Năm phẩm chất hình mẫu hàng đầu của người da trắng mà Cothran ghi nhận trong nghiên cứu của mình là:
Những phẩm chất khuôn mẫu khác mà ông liệt kê là ""họ nghĩ rằng họ biết về người da đen" nhưng thực thế thì không, hay những người Mỹ trắng vốn dĩ "không công bằng, lừa dối, gian xảo", "họ nghĩ rằng đó là thế giới của người da trắng" và "hèn nhát"". Tilman nhận thấy rằng tầng lớp thượng lưu và hạ lưu da đen vào thời điểm đó có những định kiến ít thiện cảm nhất về người da trắng và thường thì tầng lớp trung lưu da đen là có thiện cảm nhất. Trong một nghiên cứu năm 1972, người Mỹ da trắng bị coi là "ham mê vật chất và đam mê lạc thú" khi so sánh với người Mỹ gốc Á và người Mỹ gốc Phi. Trong một nghiên cứu giữa các sinh viên đại học thuộc các chủng tộc khác nhau vào năm 1982, người Mỹ da trắng được mô tả là những người chạy theo chủ nghĩa vật chất, đầy tham vọng, thông minh, có truyền thống, cần cù và bảo thủ. Tác giả của nghiên cứu lưu ý rằng khuôn mẫu người da trắng đã giảm dần mức độ ưa chuộng trong những năm qua trong khi khuôn mẫu người da đen lại tăng lên.
Trong một nghiên cứu năm 2013 thì phụ nữ da trắng nói riêng được những người tham gia khảo sát cho ý kiến không phải da trắng mô tả những phụ nữ Mỹ da trắng là những cô nàng hấp dẫn, khêu gợi, những cô ả tóc vàng, chưng diện nhưng nông cạn, có đặc quyền, sẵn sàng làm tình và chú trọng đến ngoại hình, vẻ bề ngoài. Tác giả của bài báo cũng nhận thấy rằng các khuôn mẫu này phù hợp với hình ảnh truyền thông về phụ nữ da trắng và lưu ý rằng nghiên cứu về khuôn mẫu người Mỹ da trắng tương đối hiếm hoi so với nghiên cứu về các khuôn mẫu chủng tộc khác.
Trong một nghiên cứu năm 2018 về trẻ em thuộc các chủng tộc khác nhau, những đứa trẻ 6 tuổi chọn ảnh đàn ông da trắng là "thực sự thông minh" thay vì ảnh phụ nữ da trắng hoặc người da đen và da màu.
Do định nghĩa xã hội về "người da trắng" đã thay đổi qua nhiều năm, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các thành viên thuộc các chủng tộc, sắc tộc và quốc tịch khác nhau có những định kiến khác nhau về người da trắng. Trước những năm 1980, các nhóm dân tộc như người Ái Nhĩ Lan, người Ý, người Armenia và người Ba Lan được miêu tả trên các phương tiện truyền thông và văn hóa đại chúng theo kiểu tiêu cực. Định kiến của người Tây Virginia và người Alabama bao gồm hay loạn luân và làm tình cận huyết. Người da trắng nghèo ở vùng Appalachian thường bị coi là dân miền núi.
Trong văn hóa bình dân thì Becky và Karen đã được sử dụng làm thuật ngữ để chỉ những phụ nữ da trắng hành động một cách thiếu hiểu biết, trịch thượng hoặc có đặc quyền da trắng. Becky là từ lóng mang tính miệt thị của người Mỹ để chỉ một phụ nữ trẻ da trắng. Theo ban lãnh đạo phong trào Black Lives Matter thì thuật ngữ này được gắn với một "Cô gái da trắng yêu thích Starbucks và Uggs và không biết gì về các vấn đề chủng tộc và xã hội". Vì lý do này, "Becky" thường được gắn với thuật ngữ tiếng lóng có nhiều ý nghĩa tương tự. Vào năm 2019, nhà xuất bản từ điển Merriam Webster đã viết rằng "Becky" ""ngày càng hoạt động như một tính từ và được sử dụng đặc biệt để chỉ một phụ nữ da trắng không biết gì về đặc quyền cũng như thành kiến của mình". Còn Thuật ngữ "Karen" có ý nghĩa tương tự nhưng gắn liền với phụ nữ lớn tuổi và với hàm ý thêm rằng Karen là những phụ nữ da trắng có khả năng manh động với người da màu, chẳng hạn như lúc nào cũng yêu cầu đòi gặp người quản lý hoặc gọi cảnh sát. |
Bạt-đà (; sa. "Buddhabhadra") là một tăng nhân từ miền Nam Ấn Độ đến Trung Quốc vào thời kỳ Ngũ Hồ thập lục quốc, vị trụ trì đầu tiên của Thiếu Lâm tự.
Theo "ghi chép của huyện Đặng Phong", Bạt-đà đến Trung Quốc vào năm 464 và thuyết giảng Phật giáo Nikaya trong 30 năm. Năm 495, Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế cho xây dựng chùa Thiếu Lâm làm nơi tu tập và giảng pháp cho đại sư Bạt-đà. |
Dan Gore (born 26 tháng 9, 2004) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Anh chơi ở vị trí tiền vệ cho Manchester United. Anh ấy là cầu thủ quốc tế của U-18 Anh.
Gore gia nhập học viện Manchester United vào năm 2018, trước đó từng chơi tại Burnley. Anh ấy đã vô địch 2022 FA Youth Cup cùng Manchester United. Anh ấy được bầu chọn là Cầu thủ của năm của đội dự bị của Manchester United cho Mùa giải 2022–23.
Gore has represented England at under-18 level.
He is also eligible for Ireland.
"Tính đến match played 26 September 2023" |
Tòa án lương tâm II
Một năm rưỡi đã trôi qua kể từ sự kiện ở phần trước; La Lực Á được ra tù và bắt đầu lại cuộc sống ở Thâm Thủy Bộ. Một số người bạn đã đến và rời đi, nhưng người dân trong quận vẫn phải gánh chịu sự bất công, cả La Lực Á và Vương Tư Khổ đều tìm mọi cách để đòi lại công lý cho người dân địa phương.
Việc quay phim bắt đầu vào ngày 6 tháng 10, nơi buổi lễ thử trang phục và ban phước được tổ chức tại Bãi đậu xe Studio One của Thành phố TVB ở Tseung Kwan O, Hồng Kông lúc 12:30 trưa.
Tỷ suất người xem.
Sau đây là bảng bao gồm danh sách tổng điểm xếp hạng dựa trên lượng người xem truyền hình. |
Sân vận động Luz
Sân vận động Luz, ]), tên chính thức là Sân vận động thể thao Lisboa và Benfica, là một sân vận động đa năng nằm ở Lisbon, Bồ Đào Nha. Nó được sử dụng chủ yếu cho các trận đấu bóng đá của hiệp hội, tổ chức các trận đấu trên sân nhà của câu lạc bộ Bồ Đào Nha SL Benfica, chủ sở hữu của nó.
Khai trương vào ngày 25 tháng 10 năm 2003 với trận đấu biểu diễn giữa Benfica và câu lạc bộ Nacional của Uruguay, sân thay thế cho sân vận động Luz ban đầu, có 120.000 chỗ ngồi. Sức chứa đã giảm xuống còn 65.647 và hiện ở mức 64.642. Sân vận động được thiết kế bởi HOK Sport Venue Event và có chi phí xây dựng là 162 triệu euro.
Là sân vận động loại 4 của UEFA và là một trong những sân vận động có sức chứa lớn nhất ở châu Âu (lớn nhất ở Bồ Đào Nha), sân vận động Luz đã tổ chức một số trận đấu của Euro 2004, bao gồm cả trận chung kết, cũng như trận chung kết năm 2014 và 2020 của UEFA Champions League. Nó được bầu chọn là sân vận động đẹp nhất châu Âu trong cuộc thăm dò trực tuyến năm 2014 của L'Équipe. Vào sinh nhật lần thứ 15 của mình, sân vận động thể thao Lisboa và Benfica "Luz" đã chào đón hơn 17 triệu khán giả. |
Giải quần vợt Mỹ Mở rộng 2023 - Đôi nam
Rajeev Ram và Joe Salisbury là đương kim vô địch và bảo vệ thành công danh hiệu, đánh bại Rohan Bopanna và Matthew Ebden trong trận chung kết, 2–6, 6–3, 6–4. Ram và Salisbury trở thành đôi đầu tiên giành ba danh hiệu Mỹ Mở rộng liên tiếp trong Kỷ nguyên Mở.
Ở tuổi 43 và 6 tháng, Bopanna trở thành tay vợt cao tuổi nhất vào trận chung kết Grand Slam trong Kỷ nguyên Mở, vượt qua kỷ lục của Daniel Nestor với 43 tuổi 4 tháng tại Giải quần vợt Úc Mở rộng 2016.
Austin Krajicek giành lại vị trí số 1 bảng xếp hạng đôi ATP khi giải đấu kết thúc sau khi Neal Skupski thua ở vòng 3.
Đây là giải đấu cuối cùng của cựu tay vợt số 1 đôi thế giới và nhà vô địch Grand Slam Robert Farah và Juan Sebastián Cabal; cả hai thua ở vòng 2. Đây cũng là giải đấu chuyên nghiệp cuối cùng của huy chương vàng Thế vận hội và nhà vô địch 4 danh hiệu đôi Grand Slam Jack Sock; anh và John Isner thua ở vòng 1.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
"Nhấn vào số hạt giống của một vận động viên để tới phần kết quả của họ."
Vận động viên khác.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Bảo toàn thứ hạng.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Guido Andreozzi / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Francisco Cerúndolo → thay thế bởi #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Denys Molchanov / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Alexander Bublik / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Alexander Shevchenko → thay thế bởi #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Aslan Karatsev / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. |
Nghị quyết 777 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc
Nghị quyết 777 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc được nhất trí thông qua vào ngày 19 tháng 9 năm 1992. Sau khi tái khẳng định Nghị quyết 743 (1992) và tất cả các nghị quyết kế tiếp về chủ đề này, Hội đồng cho rằng, với việc Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư (SFRY) đã giải thể, cùng với Nghị quyết 757 (1992), yêu cầu của Cộng hòa Liên bang Nam Tư (Serbia và Montenegro) về kế tục tư cách thành viên sẽ không được chấp nhận rộng rãi và do đó xác định rằng tư cách thành viên của SFRY tại Liên Hợp Quốc không thể tiếp tục. Vì vậy, Hội đồng báo cáo với Đại Hội đồng rằng Cộng hòa Liên bang Nam Tư (Serbia và Montenegro) đã ngừng tham gia Đại Hội đồng và nộp đơn xin gia nhập Liên Hợp Quốc.
Dự thảo nghị quyết ban đầu của Hoa Kỳ tuyên bố rằng Đại Hội đồng xác nhận "tư cách thành viên của Nam Tư ở Liên Hợp Quốc sẽ bị hủy bỏ", tuy nhiên điều này đã bị hủy bỏ để có được sự ủng hộ của Nga và bản thân nghị quyết vẫn có thể được diễn giải theo nhiều cách khác nhau. Nga và Trung Quốc đã bác bỏ ý kiến khai trừ Cộng hòa Liên bang Nam Tư ra khỏi tất cả các cơ quan của Liên Hợp Quốc, cho rằng công việc của nước này trong các cơ quan khác sẽ không bị ảnh hưởng. Trong khi đó, Ấn Độ và Zimbabwe (đồng minh truyền thống của Nam Tư thông qua Phong trào không liên kết) cho rằng Nghị quyết 777 đã vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc, cụ thể là Điều 5 và 6.
Nghị quyết cũng tuyên bố sẽ xem xét vấn đề này trước khi phiên họp thứ 47 của Đại Hội đồng kết thúc. Nghị quyết được thông qua với 12 phiếu thuận, không có phiếu chống, 3 phiếu trắng của Trung Quốc, Ấn Độ và Zimbabwe.
Ngày 22 tháng 9 năm 1992, Đại Hội đồng đã thông qua quyết định của Hội đồng Bảo an trong Nghị quyết 47/1, với 127 phiếu thuận, 6 phiếu chống và 26 phiếu trắng, mặc dù ảnh hưởng của văn bản đã yếu đi do loại bỏ cụm từ "xem xét rằng nhà nước trước đây gọi là Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư đã không còn tồn tại." Từ năm 1992 đến năm 2000, Cộng hòa Liên bang Nam Tư đã từ chối tái đăng ký làm thành viên của Liên Hợp Quốc và Ban Thư ký Liên Hợp Quốc, dù các cơ quan này đã cho phép phái đoàn từ SFRY tiếp tục hoạt động và công nhận các đại diện của Cộng hòa Liên bang Nam Tư với vai trò kế tục sứ mệnh của SFRY và tiếp tục làm việc trong các cơ quan khác nhau của Liên Hợp Quốc. |
Dzung (sinh ngày 29 tháng 1 năm 1989), tên thật là Phạm Việt Dũng, là một nam nhạc sĩ, nhà soạn nhạc, nhà sản xuất âm nhạc, nghệ sĩ guitar người Việt Nam. Anh đã từng giành giải thưởng "Nhạc sĩ phối khí của năm 2014" trong chương trình Bài hát Việt của Đài truyền hình Việt Nam tổ chức năm 2014 cùng ban nhạc Hạc San. Năm 2021, Dzung phát hành album Dzanca – album hoà tấu mang âm hưởng âm nhạc cổ truyền Việt Nam kết hợp với dòng nhạc progressive metal, world music mang hơi hướng hiện đại. Album nhận được sự chú ý lớn của dư luận với nhiều đánh giá tích cực. Album đã giữ vị trí Top 1 Itunes Vietnam trong một tuần liên tiếp sau khi phát hành.
Dzung đã phát hành rất nhiều album cùng các ban nhạc Hạc San và Final Stage. Tiêu biểu trong đó là concept album mang tên Sét Đánh Ngang Trời phát hành năm 2015 dựa trên cảm hừng từ câu chuyện cổ tích Việt Nam Thạch Sanh. Năm 2020, anh cùng ban nhạc Hạc San phát hành album thứ hai với tựa đề "Hồn – Trăng – Máu", là concept album lấy cảm hứng từ cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Hàn Mặc Tử với 1 track duy nhất có độ dài 29 phút 02 giây.
Dzung thành công ở nhiều vai trò khác nhau, một trong số đó là vai trò giám đốc sáng tạo và thiết kế đồ hoạ. Năm 2021, anh trực tiếp thực hiện phần bìa album "Con Đường Không Tên" của ban nhạc Bức Tường, bìa album "Still on the way" của nghệ sĩ guitar lừng danh Jack Thammarat.
Cuộc đời và sự nghiệp:.
Dzung sinh ra và lớn lên tại thủ đô Hà Nội nhưng lập nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh. Anh sinh ra trong một gia đình không có truyền thống về nghệ thuật nhưng từ năm 10 tuổi Dzung đã có đam mê dành cho âm nhạc và đặc biệt là cây đàn guitar. Dù không nhận được sự ủng hộ của gia đình, năm 12 tuổi Dzung quyết định học guitar và tham gia sinh hoạt tại Cung thiếu nhi Hà Nội.
Năm 2002, khi mới 13 tuổi, Dzung tham gia ban nhạc đầu tiên mang tên Red Cross đảm nhiệm vị trí guitar và sáng tác. Anh đã viết 2 sáng tác đầu tay cho ban nhạc Red Cross với tựa đề "Lời ước nguyện" và "Hình hài bóng đêm".
Năm 2004 Dzung gia nhập ban nhạc Final Stage – ban nhạc tiên phong cho dòng nhạc melodic death metal tại thủ đô Hà Nội khi đó. Đây là thời kì Dzung bắt đầu định hình phong cách riêng trong tiếng đàn guitar và trong các bản phối khí với âm hưởng âm nhạc dân tộc Việt Nam.
Năm 2006, Dzung cùng Final Stage tham gia chương trình Festival Huế với đêm diễn tại Nhà văn hoá Thiếu nhi Thành phố Huế cùng các ban nhạc Da Vàng, Rock Alpha, Thuỷ Triều Đỏ...
Năm 2007, Dzung cùng ban nhạc Final Stage trình diễn mở màn cho chương trình Rock Storm đầu tiên tại Sân vận động Hãng Đẫy, Hà Nội.
Cùng với Final Stage, anh đã phát hành các album "Vô Tội" năm 2006, "Dung thứ... là đau khổ" năm 2008 và tiêu biểu là album Sân khấu cuối cùng năm 2010 với vai trò nghệ sĩ guitar, sáng tác, phối khí, thiết kế bìa đĩa và nhà sản xuất. Album được phát hành vào ngày 7/3/2010 bởi Phương Nam Film. Đây được coi là album death metal Tiếng Việt đầu tiên được phát hành tại Việt Nam.
Cùng năm 2010, Dzung bỏ dở việc học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền và vào Thành phố Hồ Chí Minh lập nghiệp. Năm 2011 anh thành lập ban nhạc Hạc San với sự tham gia của tay trống Yvol, con trai của Nghệ sĩ nhân dân Y Moan. Ban nhạc theo đuổi phong cách progressive metal kết hợp với âm hưởng dân gian Việt Nam. Năm 2013, Dzung sáng tác nhạc phẩm "Bí mật của người ra đi" để tưởng nhớ người cha đã mất của mình. Sau đó Hạc San với sự cộng tác của đạo diễn Lê Thanh Sơn - đạo diễn bộ phim Bẫy Rồng đã sản xuất MV đầu tay "Bí mật của người ra đi" và gây tiếng vang lớn trong cộng đồng yêu nhạc. Năm 2014 đánh dấu bước ngoặt lớn của Hạc San với giải thưởng âm nhạc đầu tay cho nhạc phẩm "Bí mật của người ra đi". Ban nhạc dành giải thưởng "Nhạc sĩ phối khí hiệu quả" do hội đồng thẩm định bình chọn trong chương trình Bài Hát Việt live show tháng 6 năm 2014. Tháng 11 năm 2014, ban nhạc tiếp tục thắng giải thưởng "Nhạc sĩ phối khí hiệu quả" cho ca khúc "Sét đánh ngang trời" là một sáng tác của Dzung. Cùng năm này, Hạc San tiếp chiến thắng giải thưởng "Nhạc sĩ phối khí hiệu quả của năm 2014" trong chương trình Bài Hát Việt. Tháng 1 năm 2015, ca khúc "Bí mật của người ra đi" được bình chọn là "Ca khúc Rock Việt của năm" do tạp chí VNROCK bình chọn.
Tháng 12 năm 2014 Hạc San thực hiện tour diễn qua 7 thành phố lớn của Việt Nam trong chương trình Rock Storm do Mobifone tổ chức. Ca khúc chủ đề "Lòng tự hào" lấy cảm ứng từ Hào Khí Đông A được Dzung sáng tác, hoà âm và phối khí. Ca khúc được thể hiện tại tất cả 7 thành phố lớn của Việt Nam bởi các ban nhạc Microwave, Hạc San và đặc biệt cố ca sĩ - nhạc sĩ Trần Lập cùng ban nhạc Bức Tường.
Tháng 11/2015, Dzung cùng Hạc San vinh dự đại diện cho Việt Nam tham gia Liên hoan Âm nhạc châu Âu tại Việt Nam. Ban nhạc đã trình diễn 2 live show tại Nhạc viện Thành Phố Hồ Chí Minh và Rạp Công Nhân Hà Nội.
Ngày 12 tháng 12 năm 2015, sau 5 năm thực hiện, Hạc San chính thức phát hành album chủ đề mang tên "Sét đánh ngang trời" trên toàn quốc, album có mặt trong bảng đề cử dự kiến cho hạng mục "Album của năm" của Giải thưởng âm nhạc cống hiến do báo Thể thao văn hoá tổ chức, nhưng không lọt vào danh sách các đề cử cuối cùng. Album còn được báo điện tử Zing News lựa chọn là một trong "Những điểm nhấn Rock Việt 2015". Album lấy cảm hứng từ câu chuyện cổ tích Thạch Sanh và được thể hiện theo phong cách progressive metal dưới dạng album chủ đề với 11 ca khúc xâu chuỗi chặt chẽ. Toàn bộ phần ý tưởng chủ đề của Sét đánh ngang trời được Dzung viết năm 2011 và sáng tác, phối khí các nhạc phẩm Dưới đáy trần gian, Kẻ phản bội, Mũi Tên đen, Tái sinh, Ai oán, Tiếng đàn hàm oan và Sét đánh ngang trời trong các năm sau đó. Dzung cũng là người thiết kế bìa đĩa và đảm nhiệm ví trí nhà sản xuất âm nhạc của album.
Sau khi phát hành album đầu tiên cùng Hạc San, Dzung bắt tay vào viết ý tưởng cho album chủ đề thứ hai cho ban nhạc mang tên "Hồn – Trăng – Máu". Lấy cảm hứng từ cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Hàn Mặc Tử, Dzung đã viết nhạc phẩm Hồn - Trăng - Máu trong vòng 2 năm kết hợp với với phần hoà âm của nghệ sĩ keyboard Trần Nho Hoàng để tạo nên một nhạc phẩm có độ dài 29 phút 02 giây với 6 chương "Hàn – Nguyệt – Mộng – Phong – Huyết - Tử" tương ứng với từng giai đoạn trong cuộc đời của cố thi sĩ. Ban nhạc chính thức trình diễn ca khúc này trong chương trình Festival Làn Sóng Xanh 20 năm diễn ra tại sân khấu phố đi bộ Nguyễn Huệ ngày 12 tháng 1 năm 2018.
Cùng năm này Dzung chính thức bước ra hoạt động solo với tư cách là một nghệ sĩ guitar. Anh phát hành album solo đầu tay "Cánh cửa thần kỳ" ngày 29 tháng 4 năm 2018 với 6 bản hoà tấu do Dzung sáng tác, hoà âm và phối khí. Album đánh dấu bước chuyển mình của Dzung nhận được sự chú ý của cộng đồng những người yêu nhạc, cho anh động lực để tiếp tục thực hiện EP "Tình Tính Tang" với 4 nhạc phẩm hoà tấu lấy cảm hứng từ dân ca Việt Nam. "Tình tính tang" được phát hành dưới định dạng đĩa than ngày 1 tháng 11 năm 2019 và được coi là đĩa than nhạc rock đầu tiên phát hành tại Việt Nam.
Năm 2018, Dzung đảm nhiệm vai trò giám khảo trong cuộc thi Yamaha Young Competition - Online Electric Guitar Talent 2018 do Yamaha Vietnam tổ chức cùng nghệ sĩ Jack Thammarat và các nghệ sĩ guitar tên tuổi của Việt Nam.
Trong hai năm 2018 và 2019 Dzung trình diễn trong chuỗi chương trình Rock n Share tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng với các nhạc phẩm trong hai solo album đã phát hành.
Năm 2020, Dzung cùng ban nhạc Hạc San chính thức phát hành album Hồn – Trăng – Máu trên các nền tảng nhạc số trong mùa dịch COVID19 đầu tiên ở Việt Nam. Phần bìa đĩa là chân dung của cố thi sĩ Hàn Mặc Tử được Dzung thiết kế.
Cùng năm này, Dzung bắt tay vào thực hiện album "Dzanca" tiếp nối theo thành công của "Tình Tính Tang". Dzanca với sự tham gia của 20 nghệ sĩ từ khắp ba miền Bắc Trung Nam như nghệ sĩ ưu tú Hải Phượng, tay trống Cường Nhóc, ban nhạc Yellow Star Big Band, nghệ sĩ guitar Jack T, sáng tác, phối khí và trình diễn guitar. Đĩa đơn đầu tiên của album lấy cảm hứng từ dân ca quan họ Bắc Ninh với tựa đề "Xe chỉ luồn kim" nhận được phản hồi tích cực từ giới chuyên môn. Nhạc phẩm được phối khí với phần trống dân tộc với câu chuyện được kể bằng âm nhạc về người phụ nữ may áo cho tướng quân ra trận mà không hẹn ngày trở về. Cuối năm 2020, Dzung giới thiệu hai đĩa đơn Trống Cơm và Đi Cấ="Template:Quote_box/" /
"Có thể nói từ sau những nỗ lực sáng tạo không ngừng của Nguyên Lê, sau Đường xa vạn dặm hay Hà Nội Duo - thì đến nay ta mới chứng kiến thêm được một sản phẩm âm nhạc đầy thống nhất và chỉn chu như thế, với sự kết hợp không thể ngờ tới giữa rock và những làn điệu dân ca. Dzung cùng Dzanca thực sự là một dũng sĩ hai tay hai kiếm - một tay giá trị truyền thống, và tay còn lại là những mới mẻ chờ được khai phá."
~ Báo Phụ Nữ
Ngày 29 tháng 1 năm 2021, sau 1000 ngày làm việc miệt mài, Dzung chính thức phát hành album Dzanca dưới các định dạng đĩa than, CD, băng cassette và các nền tảng nhạc số. Album đã giữ vị trí Top 1 Itunes Vietnam trong một tuần liên tiếp sau khi phát hành. Album được bình chọn là "Album của năm 2021" bởi độc giả tạp chí VNROCK. Album Dzanca được đánh giá là "Album tái định nghĩa world music" và được coi là album world music tiêu biểu tiếp theo sau "Đường xa vạn dặm" của nhạc sĩ Quốc Trung và "Tales from Vietnam" của nhạc sĩ Nguyên Lê. Bìa album Dzanca được Dzung thực hiện trong 70 giờ liên tục với cảm hứng từ tranh tứ bình Việt Nam và gốm Hoa Lam.
Tháng 1 năm 2022 Dzung trình diễn nhạc phẩm Trống Cơm trong Gala Rock Việt do Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
Tháng 12 năm 2022 Dzung vinh dự đại diện cho Thành Phố Hồ Chí Minh trình diễn tiết mục khai mạc Lễ Hội Âm Nhạc Quốc Tế HOZO diễn ra tại sân khấu phố đi bộ Nguyễn Huệ ngày 9 tháng 12 năm 2022 với tiết mục "Dzanca Dzanvu". Trong đêm diễn, dưới sự hoà ca của hàng ngàn khán giả, Dzung cùng hơn 50 nghệ sĩ như nghệ sĩ ưu tú Hải Phượng, đội trống diễu hành High Power Drumline Vietnam, nhóm bộ gõ 24BEAT, tay trống Cường Nhóc, nhóm nhạc dân tộc Nhạc Viện Thành phố Hồ Chí Minh, dàn đồng ca thiếu nhi Nhà thiếu nhi Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh đã trình diễn sáng tác "Múa sạp xoè hoa" do Dzung sáng tác lấy cảm hứng từ nhảy sạp và múa xoè. Đây là nhạc phẩm được Dzung viết trong quãng thời gian dịch bệnh COVID 19 năm 2021 với ý tưởng gắn kết con người với con người bằng âm nhạc và điệu nhảy của người Việt Nam. Dzung đảm nhiệm vai trò đạo diễn sân khấu, sáng tác, phối khí, hoà âm, biên đạo cho toàn bộ tiết mục.
Ngày 10 tháng 4 năm 2023, Dzung phát hành EP 'Dzanca Dzanvu (Live in HOZO)' với 3 nhạc phẩm được thu âm trực tiếp trong đêm diễn tại Lễ Hội Âm Nhạc Quốc Tế HOZO.
Tháng 6 năm 2023, Dzung cùng nghệ sĩ ưu tú Hải Phượng mở màn Festival Biển Nha Trang 2023 với tiết mục Dzanca Dzanvu.
Tháng 9 năm 2023, Dzung tham gia chương trình "Cất Cánh" do Đài Truyền Hình Việt Nam tổ chức với chủ đề "Sức mạnh của niềm tin" trong vai trò diễn giả. |
Sinh vật trong đời sống con người
Sinh vật sống đóng vai trò quan trọng trong đời sống và văn hóa của con người, từ xa xưa, loài người đã khai thác sử dụng các sinh vật sống bao gồm động vật thực vật, nấm các loại và vi khuẩn dưới nhiều hình thức, cả về mặt thực tế như sản xuất thức ăn, thực phẩm và quần áo cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, lẫn khía cạnh văn hóa đời sống như biểu tượng trong nghệ thuật, thần thoại và tôn giáo. Các kỹ năng và thực tiễn liên quan được truyền tải vào nền văn hóa con người thông qua học tập xã hội lấy cảm hứng và thực tế từ các sinh vật dạng sống. Các ngành khoa học xã hội bao gồm khảo cổ học, nhân chủng học và dân tộc học đang bắt đầu có cái nhìn đa loài về sự tương tác của con người với thiên nhiên, trong đó các sinh vật sống không chỉ là tài nguyên cần được khai thác, về mặt thực tế hay biểu tượng, mà còn tham gia với tư cách là những người tham gia.
Trong các sinh vật sốt thì các loài thực vật cung cấp phần lớn nguồn thức ăn cho con người và vật nuôi, trong đó hệ thực vật giữ vai trò chủ đạo trong văn hóa và văn minh của con người hình thành thông qua nông nghiệp khi nhiều loại cây trồng đã được sử dụng làm lương thực, một số ít cây trồng chủ yếu bao gồm lúa mì, lúa gạo và ngô cung cấp hầu hết lương thực trên thế giới ngày nay. Bên cạnh đó, các loài động vật cung cấp phần lớn lượng thịt cho con người ăn, dù được chăn nuôi hay săn bắn, và cho đến khi có phương tiện vận tải cơ giới hóa, các loài thú trên cạn đã cung cấp một phần lớn năng lượng để sử dụng cho công việc và vận chuyển. Nhiều sinh vật sống đóng vai trò là sinh vật mô hình trong nghiên cứu sinh học, chẳng hạn như di truyền học và thử nghiệm thuốc. Cho đến thế kỷ 19, thực vật đã sản xuất ra hầu hết các loại thuốc được sử dụng phổ biến, như Dioscorides đã mô tả vào thế kỷ thứ nhất. Thực vật là nguồn cung cấp nhiều loại thuốc kích thích thần kinh, một số loại như coca đã được sử dụng hàng nghìn năm. Nấm men, một loại nấm, đã được sử dụng để lên men các loại ngũ cốc như lúa mì và lúa mạch để làm bánh mì và bia; các loại nấm khác như nấm Psilocybe và nấm bay giống nấm hương đã được dùng làm thuốc thần kinh.
Nhiều loài động vật được nuôi làm thú cưng, phổ biến nhất là các loài thú, đặc biệt là chó và mèo. Cây cối được con người trồng để làm thú thưởng ngoạn trong vườn và nhà kính, cho hoa, bóng mát và tán lá trang trí; một số, chẳng hạn như xương rồng, có thể chịu được điều kiện khô hạn thì được trồng làm cây trồng trong nhà. Các loài động vật như ngựa và hươu là một trong những chủ đề nghệ thuật sớm nhất còn gọi là nghệ thuật thời tiền sử, được tìm thấy trong các bức tranh hang động thời kỳ đồ đá cũ như ở hang Lascaux. Các sinh vật sống còn đóng nhiều vai trò biểu tượng khác nhau trong văn chương, phim ảnh, thần thoại và tôn giáo. Đôi khi một căn bệnh nghiêm trọng như bệnh lao do vi khuẩn lao gây ra lại đóng một vai trò quan trọng trong văn hóa, trong trường hợp của nó vì lý do nào đó có liên quan đến sự sáng tạo nghệ thuật.
Văn hóa bao gồm các hành vi và chuẩn mực xã hội được tìm thấy trong xã hội loài người và được truyền tải thông qua học tập xã hội. Phổ quát văn hóa trong tất cả các xã hội loài người bao gồm các hình thức biểu đạt như nghệ thuật, âm nhạc, khiêu vũ, nghi lễ, tôn giáo và công nghệ như cách sử dụng công cụ, nấu ăn, chỗ ở và quần áo. Khái niệm văn hóa vật chất bao gồm các biểu hiện vật chất như công nghệ, kiến trúc và nghệ thuật, trong khi văn hóa phi vật chất bao gồm các nguyên tắc tổ chức xã hội, thần thoại, triết học, văn học và khoa học Thuật ngữ "văn hóa sinh học" (bioculture) đã được sử dụng để bao hàm tất cả các ứng dụng thực tế (nhưng không mang tính biểu tượng) của các sinh vật sống trong văn hóa, bao gồm nông nghiệp, sản xuất thực phẩm và quần áo, lâm nghiệp, chăn nuôi và huấn luyện động vật, buôn bán vật nuôi, sử dụng cuộc sống. những thứ trong khoa học, vườn thú và thủy cung, các môn thể thao động vật và chăn nuôi động vật để săn bắn thể thao. Các học giả về văn hóa nhân loại theo truyền thống chia việc sử dụng sinh vật thành hai loại gồm sử dụng thực tế để làm thức ăn và các tài nguyên khác; và sử dụng mang tính biểu tượng như trong nghệ thuật và tôn giáo. Gần đây hơn, các học giả đã bổ sung thêm một loại tương tác thứ ba, trong đó các sinh vật sống, dù là động vật, thực vật, nấm hay vi khuẩn đều đóng vai trò là người tham gia. Điều này làm cho các mối quan hệ trở nên hai chiều, ngụ ý rõ ràng nhiều hình thức cộng sinh khác nhau trong một hệ sinh thái phức tạp. |
Jacob Mendy Mendy (sinh ngày 27 tháng 12 năm 1996) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Gambia hiện tại đang thi đấu ở vị trí hậu vệ cho câu lạc bộ Wrexham tại EFL League Two, và Đội tuyển bóng đá quốc gia Gambia.
Mendy được sinh ra tại Faji Kunda, Gambia trước khi chuyển đến Parla, gần Madrid năm 6 tuổi. Khi còn là cầu thủ trẻ, Mendy chơi cho Parla và Atlético Casarrubuelos.
Sự nghiệp thi đấu.
Anh gia nhập Atlético Madrid C một thời gian ngắn trước khi đội bóng giải thể vào năm 2015. Sau đó, anh có một khoảng thời gian ngắn với Puerta Bonita, trước khi chuyển đến Anh. Năm 2017, anh ký hợp đồng với đội bóng hạng 9 của Anh Redhill, ghi 13 bàn sau 40 trận. Năm 2018, anh ký hợp đồng với Carshalton Athletic ở giải hạng 7 nước Anh, ghi 8 bàn sau 46 trận. Năm 2019, Mendy ký hợp đồng với câu lạc bộ hạng sáu của Anh, Wealdstone, giúp họ được thăng hạng lên National League. Năm 2021, anh ký hợp đồng với Boreham Wood ở giải hạng năm nước Anh. Năm 2022, anh ký hợp đồng với Wrexham.
Sự nghiệp quốc tế.
Vào ngày 6 tháng 6 năm 2023, có thông báo rằng Mendy được điền tên trong đội hình của đội tuyển Gambia chuẩn bị cho trận gặp Nam Sudan tại vòng loại Cúp bóng đá châu Phi vào ngày 14 tháng 6 năm 2023. Anh ra mắt quốc tế vào ngày 20 tháng 11, trong trận thua 0-2 trước Bờ Biển Ngà tại Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới 2026.
Mendy nói được 4 thứ tiếng, bao gồm tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Manjak, và có đủ điều kiện để đại diện cho Gambia, cùng với Guiné-Bissau, Sénégal và Tây Ban Nha trên đấu trường quốc tế. Người em họ Carlos Mendes Gomes cũng là một cầu thủ bóng đá.
Khi chuyển tới Anh, anh làm thợ xây, người dọn dẹp và người thu gom rác. |
Barbra Banda (sinh ngày 20 tháng 3 năm 2000 tại Lusaka, Zambia) là một cựu vận động viên boxing kiêm cầu thủ bóng đá hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Trung Quốc và là đội trưởng của Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Zambia. Tính đến tháng 7 năm 2021, cô là nữ cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho bóng đá châu Phi trong lịch sử các kỳ Thế vận hội Mùa hè. Năm 2021, cô lập kỷ lục khi ghi 2 cú hat-trick liên tiếp vào lưới của Hà Lan và Trung Quốc tại môn bóng đá nữ của Thế vận hội Mùa hè 2020 diễn ra trên đất Nhật Bản. Vào năm 2020, cô là vua phá lưới tại Giải bóng đá nữ Ngoại hạng Trung Quốc.
Vào tháng 9 năm 2022, cô cùng tuyển Zambia giành chức vô địch tại Giải vô địch bóng đá nữ COSAFA 2022, một giải đấu bóng đá nữ dành cho các đội tuyển quốc gia đến từ khu vực Nam Phi. 10 bàn thắng tại giải đấu đã giúp cô mang về danh hiệu "Vua phá lưới".
Barbra Banda sinh ngày 20 tháng 3 năm 2000 tại Lusaka, Zambia. Cô bắt đầu nên duyên với bóng đá vào năm 7 tuổi khi cô chơi môn thể thao này ở trên đường phố. Banda được truyền cảm hứng từ người cha của cô, người đã dạy cô cách chơi bóng và khuyến khích cô tập luyện. Cô thi đấu cùng đội nam vì học viện nơi cô đang theo học không có đội nữ.
Sau khi được truyền cảm hứng từ vận động viên boxing chuyên nghiệp người Zambia Catherine Phiri, cô bén duyên với boxing từ năm 14 tuổi. Cô đã thi đấu boxing chuyên nghiệp 5 trận và toàn thắng cả 5 trước khi trở thành cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp.
Sự nghiệp câu lạc bộ.
Banda đã ký hợp đồng với câu lạc bộ hạng nhất của Tây Ban Nha EDF Logroño vào tháng 10 năm 2018, qua đó trở thành nữ cầu thủ đầu tiên Zambia thi đấu ở châu Âu. Cô đã ghi được 16 bàn thắng sau 28 trận thi đấu cho câu lạc bộ này.
Vào tháng 1 năm 2020, cô đã ký hợp đồng với câu lạc bộ đang thi đấu tại Giải bóng đá nữ Ngoại hạng Trung Quốc . Cô ghi bàn ở phút thứ 23 ngay trong trận ra mắt đội bóng mới vào ngày 23 tháng 8 năm 2020. Banda tiếp tục ghi 18 bàn sau 13 trận đấu tại giải đấu và giúp cô nhận được danh hiệu "Chiếc giày vàng" với nhiều bàn thắng nhất giải đấu.
Sự nghiệp thi đấu quốc tế.
Banda đại diện cho U-17 nữ Zambia tham dự Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới 2014 diễn ra tại Costa Rica. Cô tham dự giải đấu này khi mới bước sang tuổi 14.
Cấp độ đội tuyển quốc gia.
Vào ngày 6 tháng 3 năm 2016, cô ra mắt cho đội tuyển quốc gia bằng trận đấu với Namibia tại Vòng loại Cúp bóng đá nữ châu Phi 2016.
Cô được bầu làm đội trưởng của đội tuyển nữ Zambia tham dự Thế vận hội Mùa hè 2020 diễn ra tại Tokyo, Nhật Bản, và cũng là lần đầu tiên Zambia tham dự một giải đấu quốc tế. Trong trận đấu ra quân với Hà Lan, cô đã lập một cú hat-trick trong trận thua đậm với tỷ số 3–10, đó cũng là trận thua đậm nhất trong lịch sử bóng đá nữ Zambia, và cũng là tỷ số đậm nhất của bộ môn bóng đá nữ trong lịch sử các kỳ Thế vận hội Mùa hè. Ở trận đấu thứ hai với Trung Quốc, một lần nữa cô lập hat-trick trong trận hòa 4–4, đồng thời giúp cô trở thành cầu thủ bóng đá nữ đầu tiên lập 2 cú hat-trick trong lịch sử các kỳ Thế vận hội Mùa hè. Cô cũng là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho châu Phi trong lịch sử các kỳ Thế vận hội Mùa hè.
Vào ngày 6 tháng 7 năm 2022, Banda cùng ba người đồng đội, trong đó có tiền đạo Racheal Kundananji bị Liên đoàn bóng đá châu Phi ra quyết định không đủ điều kiện để thi đấu cho đội tuyển nữ Zambia trong các trận đấu thuộc vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới và Cúp bóng đá nữ châu Phi, sau một cuộc kiểm tra xác minh giới tính cho thấy, hàm lượng testosterone tự nhiên của họ quá cao. Quyết định này của CAF đã gây ra nhiều tranh cãi, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã mô tả rằng, đó là một "sự vi phạm rõ ràng" nhân quyền của Banda. Vào tháng 8 năm 2022, sau khi tuyển nữ Zambia giành hạng ba tại Cúp bóng đá nữ châu Phi 2022 (mặc dù Banda không thi đấu), cô và 7 người đồng đội của mình đã được Quân đội Zambia thăng quân hàm, còn Banda được phong quân hàm Trung sĩ.
Vào tháng 9 năm 2022, cô cùng tuyển Zambia giành chức vô địch tại Giải vô địch bóng đá nữ COSAFA 2022, một giải đấu bóng đá nữ dành cho các đội tuyển quốc gia đến từ khu vực Nam Phi. 10 bàn thắng tại giải đấu đã giúp cô mang về danh hiệu "Vua phá lưới".
Vào tháng 6 năm 2023, cô được điền tên vào danh sách của đội tuyển nữ Zambia tham dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023 diễn ra tại Úc và New Zealand sau khi được FIFA ra phán quyết đủ điều kiện thi đấu cho đội tuyển này vào tháng 12 năm 2022.
Vào ngày 7 tháng 7 năm 2023, cô lập cú đúp trong trận giao hữu với đội tuyển đang đứng thứ 2 thế giới lúc bấy giờ, Đức và giành chiến thắng gây sốc với tỷ số 3–2 ngay trên đất Đức.
Vào ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023, cô đã giành danh hiệu "Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu" khi giúp cho Zambia giành chiến thắng trước Costa Rica với tỷ số 3–1.
Một số công việc khác.
Năm 2021, Banda thành lập một quỹ mang tên nhằm hỗ trợ các chương trình thúc đẩy quyền phụ nữ và trẻ em gái để giải quyết các vấn đề bất bình đẳng kinh tế, bạo lực trên cơ sở giới, thiếu khả năng tiếp cận bình đẳng, mang thai ở tuổi vị thành niên và kết hôn sớm do sử dụng sức mạnh của thể thao. Quỹ cũng tổ chức một giải đấu bóng đá hàng năm. Trong dự án này, cô nói rằng: #đổi
Cô cũng tham gia vào dự án thiện nguyện Common Goal từ năm 2019 và cam kết dành ít nhất 1% tiền lương của mình cho một quỹ tập thể để hỗ trợ các tổ chức từ thiện bóng đá trên toàn thế giới.
Banda luôn coi Cristiano Ronaldo là cầu thủ mà cô ngưỡng mộ nhất. |
Thể thao điện tử tại Đại hội Thể thao châu Á 2022 – PUBG Mobile
Nội dung thi đấu PUBG Mobile phiên bản Đại hội Thể thao châu Á 2022 tại Đại hội Thể thao châu Á 2022 diễn ra từ ngày 27 tháng 9 đến ngày 01 tháng 10 năm 2023 tại Hàng Châu, Trung Quốc.
Phiên bản Đại hội Thể thao châu Á 2022.
Khác với PUBG Mobile phiên bản thông thường, phiên bản được sử dụng để thi đấu tại Đại hội Thể thao châu Á 2022 mang tên Bắn súng địa hình, sẽ tận dụng và kết hợp nhiều trải nghiệm trong trò chơi như bắn súng mục tiêu và đua xe. Lối chơi cổ điển của PUBG Mobile kết hợp các yếu tố trong các bộ môn thể thao cạnh tranh giống như ba môn phối hợp, tạo nên một nội dung thi đấu Thể thao điện tử phù hợp với tinh thần thể thao và tầm nhìn Thế vận hội, giảm đi những yếu tố bạo lực.
"Chúng tôi không thể đưa vào chương trình Olympic một trò chơi mang yếu tố thúc đẩy bạo lực hoặc phân biệt đối xử. Một số trò chơi còn theo dạng sát thủ. Theo quan điểm của chúng tôi, những điều này mâu thuẫn sâu sắc với giá trị Olympic và do đó không thể được chấp nhận" - Thomas Bach, Chủ tịch Ủy ban Olympic Quốc tế, nói về sự thay đổi của PUBG Mobile ở phiên bản Đại hội Thể thao châu Á 2022 cũng như khả năng xuất hiện của các môn Thể thao điện tử tại chương trình Olympic.
Quốc gia tham dự.
Sẽ có tổng cộng 21 quốc gia tham gia thi đấu nội dung PUBG Mobile môn Thể thao điện tử tại Đại hội thể thao châu Á 2022:
Thể thức thi đấu.
Mỗi trận đấu sẽ bao gồm 4 đội tuyển đến từ 4 quốc gia khác nhau, mỗi đội tuyển bao gồm 4 vận động viên tham gia thi đấu. Mỗi trận đấu sẽ bao gồm 4 lượt đấu. Mỗi lượt đấu sẽ có thời gian thi đấu tối đa là 30 phút. Đội tuyển có tổng thời gian hoàn thành của 4 lượt đấu sớm hơn sẽ giành được thứ hạng cao hơn.
Trong mỗi lượt đấu, sẽ xuất hiện 10 điểm hướng dẫn, các vận động viên cần phải đi qua 10 điểm hướng dẫn. Ngoài ra, trên đường đi sẽ xuất hiện những mục tiêu, các vận động viên có thể bắn những mục tiêu để tăng tốc độ di chuyển. Sau khi đi qua 10 điểm hướng dẫn, các đội tuyển sẽ đến khu vực bắn mục tiêu, tại đây, các đội tuyển sẽ có nhiệm vụ bắn các mục tiêu để đạt được đủ số điểm yêu cầu, số điểm sẽ thay đổi dựa theo từng vòng đấu.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ bắn mục tiêu, các đội tuyển cũng cần điều khiển phương tiện về đích để hoàn thành cuộc đua. Thời gian hoàn thành ván đấu được tính khi vận động viên cuối cùng của đội vượt qua vạch đích. |
Những chú thỏ sặc sỡ
Những chú thỏ sặc sỡ (tiếng Anh: Sunny Bunnies; tiếng Ba Lan: Słoneczne Zajączki) là loạt phim hoạt hình dành cho trẻ em hoạt hình trên máy tính do Digital Light Studio sản xuất (trong 6 mùa đầu tiên và một phần của mùa thứ 7) và Animation Café (từ mùa 7 trở đi). Bộ phim bao gồm bảy phần đầy đủ, mỗi phần có 26 tập. Phần thứ bảy được ra mắt vào ngày 17 tháng 2 năm 2022 và đang phát sóng trên YouTube. "Nhũng chú thỏ sặc sỡ" được phát sóng tại hơn 160 quốc gia trên toàn thế giới, và kênh YouTube của bộ phim ra mắt vào tháng 4 năm 2016 với sự hỗ trợ quản lý từ mạng trẻ em trực tuyến WildBrain thuộc sở hữu của DHX.
Bộ phim kể về một nhóm thỏ sắc màu sống dưới ánh mặt trời. Trong mỗi tập phim, họ xuất hiện ở những địa điểm dường như được chọn ngẫu nhiên, từ công viên địa phương và nhiều địa điểm khác trên khắp thế giới, và trong hai dịp riêng biệt, xa hơn nữa. Trong những nỗ lực này, các nhân vật thường xung đột với nhau và xung đột, để lại dấu vết hỗn loạn và hủy diệt sau lưng họ. Trái ngược với hầu hết các chương trình dành cho trẻ em khác, "Những chú thỏ sặc sỡ" sử dụng rất nhiều sự hài hước phi lý và hài hước để tạo nên sự hài hước. Vào cuối mỗi tập, là hậu trường một số "lỗi" được giới thiệu, cho thấy điều gì đó đang xảy ra trong quá trình sản xuất tập phim hoặc một đoạn clip từ chính tập phim đó. Loạt phim tập trung nhiều vào các nhân vật, tính cách của họ, mối quan hệ gần như không ổn định của họ với nhau và động lực của họ, chẳng hạn như tính cách người đàn ông thẳng thắn của Turbo xung đột nặng nề với những hành động hiếu động và thường ngu ngốc của Hopper.
Trò chơi điện tử.
Sunny Bunnies: Magic Pop.
Vào tháng 10 năm 2018, đã có thông báo rằng một trò chơi điện tử Sunny Bunnies chính thức đang được phát triển bởi 9th Impact. Vào ngày 16 tháng 11 năm 2018, "Sunny Bunnies: Magic Pop!" đã được ra mắt trên iOS App Store và Google Play Store. Trò chơi là một câu đố trong đó người chơi chạm vào ba hoặc nhiều màu liền kề cùng màu để làm cho chúng "bật" một cách kỳ diệu và được tính vào việc đạt được mục tiêu cấp độ. Một tập của loạt phim Sunny Bunnies đã được phát hành cùng ngày để quảng bá cho trò chơi. Trong tập phim, những chú thỏ khám phá một trò chơi kỹ thuật số trên máy tính và bắt đầu chơi. Một trong số chúng - Boo, đã vô tình làm đổ màn hình, đè bẹp những chú thỏ khác và bằng cách nào đó đưa chúng vào trong trò chơi. Sau khi nhấc máy tính lên, anh khám phá ra cách chơi trò chơi và hoàn thành mục tiêu "đưa" bạn bè của mình ra khỏi trò chơi và trở lại thực tế, từ đó khôi phục mọi thứ trở lại bình thường.
Sunny Bunnies: Coloring Book.
Vào đầu năm 2021, một trò chơi khác mang tên "Sunny Bunnies: Coloring Book" đã được ra mắt trên Google Play Store và vào ngày 17 tháng 11 năm 2022, một phiên bản cập nhật đã được phát hành. Ứng dụng này được cho là cam kết tạo ra một môi trường giáo dục và an toàn cho trẻ em: bé gái và bé trai từ 2 đến 6 tuổi. Các hình ảnh đầy màu sắc trong trò chơi được thiết kế để nâng cao khả năng nhận dạng mẫu và phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề sáng tạo. Ngoài ra còn có các phần thưởng ở nhiều cấp độ bao gồm tô màu nhiều bức tranh trong ngày hoặc trong một số ngày để mang lại giải thưởng cho tất cả người chơi.
ĐẶC ĐIỂM CỦA SUNNY BUNNIES: COLORING BOOK: |
Giải quần vợt Mỹ Mở rộng 2023 - Đôi nữ
Gabriela Dabrowski và Erin Routliffe là nhà vô địch, đánh bại Laura Siegemund và Vera Zvonareva trong trận chung kết, 7–6(11–9), 6–3. Dabrowski trở thành tay vợt Canada đầu tiên giành một danh hiệu đôi nữ Grand Slam, và Routliffe trở thành tay vợt New Zealand đầu tiên vô địch Mỹ Mở rộng.
Coco Gauff và Jessica Pegula cùng giành vị trí số 1 bảng xếp hạng đôi WTA sau khi Hsieh Su-wei thua ở vòng bán kết. Siniaková, Elise Mertens, Taylor Townsend và Desirae Krawczyk cũng cạnh tranh vị trí số 1 khi giải đấu bắt đầu, nhưng Siniaková thua ở vòng 2, Mertens thua ở vòng 1, Townsend thua ở vòng tứ kết, và Krawczyk rút lui ở vòng 2.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
"Nhấn vào số hạt giống của một vận động viên để tới phần kết quả của họ."
Vận động viên khác.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Bảo toàn thứ hạng.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Marie Bouzková / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Sara Sorribes Tormo → thay thế bởi #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Andrea Gámiz / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Caroline Garcia / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Kristina Mladenovic → thay thế bởi #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Aliona Bolsova / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Julia Grabher / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Rebecca Peterson → thay thế bởi #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Elina Avanesyan / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. |
Khu định cư Hromada Dvorichna
Toàn bộ hromada chủ yếu bao gồm đất nông nghiệp bằng phẳng, hầu như không có khu công nghiệp nào. Cùng với đó, hromada cũng phần lớn chưa được phát triển, chỉ mới có điện gần đây và vẫn có rất ít liên lạc hoặc internet với bên ngoài. Vì lý do này, mặc dù hromada có trang web chính thức, nhưng nó hiếm khi được cập nhật thông tin mới.
Trước khi Nga xâm lược vào năm 2022, thu nhập của hromada đến hoàn toàn từ nông nghiệp, chăn nuôi, kế toán, giáo dục, y tế và hành chính. Hromada có một trường thể thao thành công đáng chú ý ở khu định cư hành chính trung tâm Dvorichna, cùng với nhiều trường học và một nhà trẻ khác.
Thành lập và những năm đầu.
Hromada Dvorichna được thành lập vào ngày 12 tháng 6 năm 2020 sau khi sáp nhập 14 hội đồng định cư trong huyện Dvorichna, vốn sẽ bị bãi bỏ. Sau khi thành lập, hromada trở thành chính quyền địa phương cho 55 khu định cư, với tổng dân số là 16.568 người vào tháng 1 năm 2021.
Hromada đã tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên vào ngày 25 tháng 10 năm 2020, trong đó Turbaba Halyna Hryhorivna, người gốc Dvorichna, đã được bầu làm Trưởng Hromada. Trước cuộc chiến năm 2022, hromada có tổng dân số khoảng 16.500 người trong diện tích .
Toàn bộ hromada đã bị quân Nga chiếm đóng trong những ngày đầu của cuộc xâm lược Ukraine của Nga vào tháng 2 năm 2022. Trong thời gian chiếm đóng hoàn toàn, Halyna Turbaba đã bị giam cầm hai lần vì từ chối hợp tác với quân đội Nga. Trong lần đầu tiên bị giam cầm kéo dài một tháng và lần thứ hai bị giam cầm 50 ngày của Turbaba, một số quan chức hromada cấp dưới đã đồng ý làm việc với người Nga. Trong thời gian này: những ngôi nhà đẹp hơn, cùng với các thiết bị hữu ích từ các trang trại, được cho là đã bị quân đội Nga tịch thu. Nhiều cư dân cũng rời đi đến biên giới Nga hoặc đi qua một con đập bắc qua hồ chứa Pecheneg (uk) đến lãnh thổ do quân đội Ukraina kiểm soát.
"Có những người đang có kế hoạch quay trở lại. Nhưng thực tế là có lẽ sẽ không có nơi nào để quay trở lại - Dvorichna [hromada] đang bị phá hủy khỏi mặt đất"
Tình hình lãnh thổ chỉ thay đổi ở hromada sau cuộc phản công Kharkiv thành công do lực lượng Ukraine thực hiện vào tháng 9 năm 2022, trong đó quyền kiểm soát hromada sẽ được chia cắt dọc theo sông Oskil vào ngày 12 tháng 9, và sẽ duy trì theo cách này với một số ngoại lệ. Sau cuộc phản công, những quan chức cấp dưới làm việc với Nga đã trốn khỏi hromada, và nhiều cư dân cũ rời đi sang Nga đã quay trở lại sống ở Kharkiv hoặc chuyển đến các quốc gia châu Âu khác bao gồm Cộng hòa Séc, Đức, Na Uy, Ba Lan, Thụy Điển và Thụy Sĩ, khi hromada tiền tuyến hiện nay được đặt dưới lệnh sơ tán bắt buộc. Sự suy giảm dân số này đã dẫn đến chỉ còn khoảng 2.000 cư dân ở lại các khu vực được giải phóng lại của hromada vào tháng 12 năm 2022, và chỉ còn 1.100 cư dân vào tháng 4 năm 2023, chủ yếu là người già, với chỉ 60 người trong số đó là trẻ em.
Việc pháo kích hàng ngày vào hromada kể từ sau cuộc phản công của Ukraine đã phá hủy phần lớn khu định cư hành chính trung tâm Dvorichna: bao gồm tất cả 35 tòa nhà chung cư ở đó, 30% tổng số tòa nhà dân cư trong hromada, và 70% ở Dvorichna, và phần lớn cơ sở hạ tầng giáo dục, y tế và giải trí trong hromada, cũng như làm hư hỏng hoặc phá hủy tất cả các tòa nhà hành chính. Tất cả các tòa nhà không tiếp giáp với các khu định cư hromadas lân cận cũng mất quyền truy cập vào điện, khí đốt và nhiệt, dẫn đến việc các bưu điện, ngân hàng, nhà thuốc và các cơ sở kinh doanh khác dựa trên đó của hromada bị đóng cửa vô thời hạn.
Vì những yếu tố này, phần lớn dân số còn lại sống trong sân vườn hoặc tầng hầm do thiệt hại từ chiến tranh. Trợ giúp nhân đạo bao gồm thực phẩm, vệ sinh, củi đốt, nhiên liệu và các vật phẩm cần thiết khác được phân phối trung bình hai lần một tháng cho cư dân, giúp họ vẫn có thể sống trong hromada. Một tiệm bánh được xây dựng bởi các nhân viên cứu trợ cùng với các vườn rau địa phương cũng cung cấp nhiều thức ăn hơn mức cần thiết cho cư dân. Một bác sĩ và xe cứu thương địa phương cũng cung cấp hỗ trợ y tế mặc dù không có hiệu thuốc nào hoạt động. Công tác quản lý vẫn do Turbaba và hai quan chức khác phụ trách, với nhiều người khác chọn làm việc từ xa. Có rất ít hoặc không có thông tin liên lạc với nửa bị chiếm đóng của hromada, với khả năng xảy ra thảm họa nhân đạo.
Kiểm soát lãnh thổ kể từ tháng 9 năm 2022.
Sau cuộc phản công thành công của Ukraine, tình hình lãnh thổ ở hromada không thay đổi cho đến ngày 18 tháng 10, khi một cuộc phản công cục bộ của Nga chiếm lại Horobivka. Bốn tháng sau, từ ngày 4 đến ngày 18 tháng 2 năm 2023, một cuộc phản công lớn hơn của Nga từ Dvorichne đã đẩy lùi lực lượng Ukraine khỏi khu định cư vào ngày 10 tháng 2, và tiếp tục tiến công chiếm Lyman Pershyi (uk) vào ngày 16 tháng 2, và Hrianykivka vào ngày 18 tháng 2, là sự kiện quan trọng cuối cùng của cuộc tấn công. Theo Turbaba, vào khoảng thời gian này, dân số của Hrianykivka đã trở thành 0 sau khi mọi tòa nhà ở đó bị phá hủy trong loạt các cuộc tấn công và phản công.
Vào ngày 15 tháng 5 năm 2023, một cuộc phản công cục bộ khác của Nga đã chiếm lại Masiutivka, khu định cư cuối cùng trong hromada ở phía đông sông Oskil.
Vào ngày 17 tháng 7 năm 2023, lực lượng Nga sẽ cố gắng tiến xa hơn từ Masiutivka và cố gắng vượt sông Oskil. Mặc dù Bộ Tổng tham mưu Ukraine báo cáo rằng cuộc tấn công không thành công, nhưng một milblogger Nga tuyên bố rằng cuộc tấn công đã chiếm được 1–2 km đất theo hướng này. Tuyên bố này sẽ được các milblogger khác và Bộ Quốc phòng Nga ủng hộ hai ngày sau vào ngày 19 tháng 7. Sự tiến công của Nga theo hướng này sẽ tiếp tục một lần nữa vào ngày 8 tháng 8, với lực lượng Nga của Tập đoàn quân hợp thành số 6 chiếm được các vị trí ở phía nam Vilshana và Lyman Pershyi.
Danh sách các khu định cư.
Hromada bao gồm một khu định cư kiểu đô thị, là trung tâm hành chính Dvorichna, và 54 khu định cư khác, bao gồm: |
Sir Henry Enfield Roscoe (7 tháng 1 năm 1833 – 18 tháng 12 năm 1915) là một nhà hóa học người Anh. Ông đặc biệt nổi tiếng với những công trình ban đầu về vanadium, các nghiên cứu quang hóa và sự hỗ trợ của ông trong việc tạo ra Oxo (thực phẩm), ở dạng chất lỏng ban đầu của nó.
Roscoe nhận được bằng tiến sĩ danh dự (LL.D) từ Đại học Glasgow vào tháng 6 năm 1901. IVào tháng 11 năm 1909, ông được tuyên thệ nhậm chức Hội đồng Cơ mật. Ông được trao tặng Huy chương Elliott Cresson của Viện Franklin vào năm 1912.
Tòa nhà Roscoe tại Đại học Manchester được đặt tên theo Giáo sư Roscoe. Đây là một cơ sở giảng dạy đa năng lớn được sử dụng cho các cấp độ giảng dạy khác nhau ở Phố Brunswick. |
Hoàng Vĩnh Nguyên (sinh ngày 3 tháng 2 năm 2002) là một cầu thủ bóng đá người Việt Nam hiện đang thi đấu ở vị trí tiền vệ cho Thành phố Hồ Chí Minh.
Sự nghiệp cầu thủ trẻ.
Hoàng Vĩnh Nguyên ban đầu trúng tuyển lớp năng khiếu khóa 4 của Hoàng Anh Gia Lai nhưng sau đó đã được đôn lên khóa 4 của Học viện Hoàng Anh Gia Lai JMG với sự tiến bộ vượt bậc. Anh được mệnh danh là "Xuân Trường đệ nhị" vì lối đá và tầm nhìn khá giống với người đàn anh.
Năm 2020, Vĩnh Nguyên gia nhập Học viện Nutifood JMG, câu lạc bộ đối tác của Hoàng Anh Gia Lai. Anh là thành viên của Nutifood đã giành chức vô địch U-21 Quốc gia Việt Nam 2021.
Sự nghiệp câu lạc bộ.
Năm 2022, Vĩnh Nguyên gia nhập đội bóng đang chơi tại V.League 2 là câu lạc bộ Long An theo hợp đồng cho mượn từ Nutifood.
Thành phố Hồ Chí Minh.
Đầu năm 2023, Hoàng Vĩnh Nguyên cùng 17 cầu thủ trẻ khác được Nutifood chuyển giao tới Thành phố Hồ Chí Minh theo dạng mua đứt. Anh ra sân 11 trận tại V.League 2023 đều từ băng ghế dự bị.
Cho mượn tại đội B Cádiz.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, Vĩnh Nguyên được Thành phố Hồ Chí Minh cho đem đi du học tại Tây Ban Nha trong màu áo của đội B Cádiz CF theo hợp đồng cho mượn ngắn hạn. Dù bị nghi ngờ là bản hợp đồng thương mại nhưng Hoàng Vĩnh Nguyên đã chứng minh bằng 4 bàn thắng trong trận đấu tập của Cádiz B. Vĩnh Nguyên liên tục thể hiện những màn trình diễn tốt trong các buổi tập nhờ khả năng rê dắt bóng và đỡ bước một của mình, thậm chí một đồng đội của anh còn cho rằng không thể cướp bóng từ chân Vĩnh Nguyên. Hoàng Vĩnh Nguyên rời Cadiz vào giữa tháng 11 sau quãng thời gian ăn tập tại Tây Ban Nha, dù thể hiện khá tốt nhưng anh quyết định không ký hợp đồng với đội bóng mà trở về Việt Nam trong màu áo câu lạc bộ chủ quản.
Sự nghiệp quốc tế.
Vào tháng 3 năm 2023, Vĩnh Nguyên được triệu tập lần đầu tiên vào U-23 Việt Nam tham dự giải giao hữu Doha Cup 2023. Anh có 1 lần ra sân trong giải đấu với U-23 Kyrgyzstan. |
Chung kết Leagues Cup 2023
Trận chung kết Leagues Cup 2023 là trận đấu cuối cùng của mùa giải thứ ba của Leagues Cup, một giải đấu bóng đá giữa các câu lạc bộ từ Major League Soccer (MLS) và Liga MX. Trận đấu được diễn ra vào ngày 19 tháng 8 năm 2023 tại Geodis Park ở Nashville, Tennessee, Hoa Kỳ. Trận đấu được tranh tài giữa đội chủ nhà Nashville SC và Inter Miami CF, cả hai đều là những đội bóng mới gia nhập giải đấu và chưa từng giành được danh hiệu vô địch nào.
Miami đã vươn lên dẫn trước trong hiệp một với bàn thắng của Lionel Messi, trong khi Fafà Picault gỡ hòa cho Nashville sau giờ nghỉ; trận đấu kết thúc với tỷ số 1-1 sau thời gian thi đấu chính thức. Trong loạt sút luân lưu, Inter Miami CF đã giành chiến thắng với tỷ số 10-9 trong loạt sút cuối cùng giữa hai thủ môn của hai đội. Thủ môn của Miami, Drake Callender, đã được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu sau pha cứu thua của anh trước Elliot Panicco và cú sút phạt đền thành công để giành chức vô địch cho đội của mình. |
Phạm Quang Huy (sinh năm 1996 tại Hải Phòng) là một vận động viên bắn súng Việt Nam. Năm 2023, Quang Huy trở thành vận động viên đầu tiên của Việt Nam đoạt huy chương vàng bộ môn bắn súng tại một kỳ Asiad. Quang Huy hiện đang là thành viên đội tuyển quốc gia thành tích cao môn bắn súng.
Phạm Quang Huy là con trai của hai cựu vận động viên bắn súng Hải Phòng Phạm Cao Sơn và Đặng Thị Hằng. Anh có một em trai cũng là vận động viên bắn súng trẻ Phạm Đăng Quang. |
Dĩ Am Thâm Tịnh
Dĩ Am Thâm Tịnh (zh. 已庵深凈) là đời Tống, thuộc tông Vân Môn (đời thứ 11). Sư nối pháp Thiền sư Trung Trúc Nguyên Diệu, kể từ sau đời của Sư thì pháp hệ của tông Vân Môn dừng truyền thụ và hoàn toàn chấm dứt do Sư không tìm thấy bất kỳ ai phù hợp để truyền pháp.
Cơ duyên và hành trạng.
Sư quê ở Ôn Châu, Chiết Giang. Không rõ sư sinh năm nào, theo "Ngũ Đăng Hội Nguyên" chép thì sư sống vào đời Nam Tống.
Sau khi đại ngộ và được Thiền sư Si Thiền Nguyên Diệu (Trung Trúc Nguyên Diệu) ấn khả, sư đến nhận chức trụ trì tại chùa Quang Hiếu ở Ôn Châu.
Sư thượng đường, nói:
"Rồng sinh rồng, phụng sinh phụng. Con chuột nọ nuôi con trên nóc nhà ở ngoài đường. Tổ Đạt Ma chẳng rõ thiền, đến Lương qua Ngụy nhiều chỗ ồn náo." (龍生龍, 鳳生鳳, 老鼠養兒沿街棟, 達磨大師不會禪, 歷魏遊梁乾打閧)
Hôm khác sư dạy chúng:
"Gió hiu hiu, lá rơi rơi, mây giăng giăng, nước mênh mông, bên sông đứng nhìn ai mà thuyết, ngoài trời ba con chim Hồng bay thành hai hàng." (風蕭蕭, 葉飄飄, 雲片片, 水茫茫, 江干獨立向誰說, 天外飛鴻三兩行)
Đương thời, sư mỗi khi đàm đạo với đồng đạo là Thiền sư Linh Ẩn Uẩn Trung (zh. 靈隱蘊衷, thuộc tông Vân Môn) thường than rằng thời mạt pháp tìm khắp nơi khó thấy được một người thực ngộ yếu chỉ, lại cũng không có đệ tử xuất gia nào khế hợp nên sư không truyền pháp tông Vân Môn cho bất kỳ ai nối tiếp nữa. Kể từ đó, truyền thừa của tông Vân Môn hoàn toàn chấm dứt.
Không rõ sư tịch ở đâu, khi nào. Sư có để lại tác phẩm là "Dĩ Am Thâm Tịnh Hòa Thượng Ngữ Yếu" và sách này được thu vào quyển 2 của bộ "Tục Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu". |
Đào Minh Quân (sinh năm 1952 tại miền Nam Việt Nam) là một chính trị gia người Mỹ gốc Việt. Ông là Tổng thống thứ 3 (tự xưng) và là Hoàng đế (tự xưng) của Đệ Tam Cộng Hòa Việt Nam , được tuyên bố là chính phủ lưu vong. Ông được biết đến là người khởi xướng Phong trào Dân chủ Mới ở Việt Nam.
Ngày 19 tháng 6 năm 2022, Đào Minh Quân được sự ủng hộ của đảng chính trị của ông tuyên bố chính phủ cộng hòa sẽ hợp nhất với chế độ quân chủ với tư cách là "Hoàng đế của Đế quốc Việt Nam". Tuy nhiên, do bất đồng với các đảng phái chính trị khác của người Việt tại Hoa Kỳ nên tổ chức này sẽ được tổ chức lại vào đầu tháng 11/2022.
Cuộc sống và giáo dục.
Quân sinh ra ở làng Thị Nghè, tỉnh Gia Định , miền Nam Việt Nam với Đào Thế (cha) và Nguyễn Thị Hạnh (mẹ). Ông tự xưng là con cháu của Thái tử Trần Hưng Đạo.
Ông theo học trường Phan Thanh Giản cho đến năm 1968. Quân tham gia khóa học Biệt kích tại căn cứ quân sự Sơn Trà /Non Nước khi mới 16 tuổi. Trong Chiến tranh Việt Nam , ông đã hỗ trợ Robert D. Ohman và sau này trở thành Thiếu úy của Tiểu đoàn 122. Sau đó ông được thăng chức làm Thiếu tá của một đơn vị lực lượng đặc biệt mang tên "Hắc Hổ".
Năm 1980, ông di cư đến Los Angeles, Hoa Kỳ cùng gia đình tị nạn chính trị. Anh học Lập trình Máy tính tại Cao đẳng Cộng đồng Rancho Santiago.
Đào Minh Quân và Nguyễn Hậu, Chủ tịch Tổng hội Tù chính trị Cộng sản, đã lập hồ sơ bất hợp pháp về tù chính trị ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1990. Việc này giúp binh sĩ QLVNCH đoàn tụ với gia đình. Đào cũng khởi xướng một chương trình mang tên CPA (Kế hoạch hành động toàn diện) để giúp người tị nạn Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ.
Ông thành lập đảng chính trị của mình, Việt Nam Cộng hòa thứ 3, vào ngày 16 tháng 2 năm 2018. Đảng này cũng đóng vai trò là chính phủ lâm thời tự xưng của Việt Nam. Đào được bầu làm Tổng thống thứ ba của nước Việt Nam Cộng hòa, đồng thời tự xưng; hoặc Tổng thống đầu tiên của nước Cộng hòa thứ ba Việt Nam mới thành lập. Anh ấy đã được chấp nhận và khánh thành vào ngày 11 tháng 11 năm 2018 tại Adelanto, California.
Đào đã nhận được hai công hàm ngoại giao của cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton. Chính phủ lâm thời Ukraina cũng mời ông tới phát biểu tại Đại hội Liên Xô. Ngày 15 tháng 10 năm 2010, Đại diện Hoa Kỳ Gary Miller và Edward Nixon mời Đào làm Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Lâm thời Việt Nam đến tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông tại Thư viện Nixon.
Đảng chính trị của Đào đã bị trang web của Bộ Công an Việt Nam liệt vào danh sách tổ chức khủng bố.
Các thành viên trong đảng chính trị của Đào đã ra hầu tòa Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tội lật đổ Chính phủ Việt Nam, trong đó có vụ đánh bom, đốt phá một cơ sở công an và vụ đánh bom bất thành tại sân bay, có lẽ là Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất. |
Thể thao điện tử tại Đại hội Thể thao châu Á 2022 – DOTA 2
Nội dung thi đấu DOTA 2 tại Đại hội Thể thao châu Á 2022 sẽ được tranh tài từ ngày 29 tháng 09 năm 2023 đến ngày 02 tháng 10 năm 2023 tại Hàng Châu, Trung Quốc.
Quốc gia tham dự.
Sẽ có tổng cộng 14 quốc gia tham gia thi đấu nội dung Dota 2 thuộc môn thi đấu Thể thao điện tử tại Đại hội thể thao châu Á 2022:
9 đội tuyển sẽ được chia thành 3 bảng. Mỗi bảng có 3 đội. 3 đội nhất bảng sẽ giành quyền vào vòng loại trực tiếp.
Vòng loại trực tiếp.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Ả Rập Xê Út. |
Hình tượng chuột túi trong văn hóa
Hình tượng con chuột túi ("Kangaroo") trong đời sống văn hóa thể hiện qua khía cạnh biểu tượng trên huy hiệu, logo và xuất hiện trong văn hóa đại chúng. Chuột túi trên khía cạnh văn hóa bao gồm các loài thú có túi thuộc họ Chân to (Macropodidae) trong đó Kangaroo (Kăng-gu-ru) thường dùng để chỉ một số loài lớn nhất trong họ này như Kangaroo đỏ. Các loài chuột túi đã trở thành biểu tượng của Úc, cũng như xuất hiện trong văn hóa đại chúng cả trên bình diện quốc tế với sức hấp dẫn đại chúng cũng như chính tại nước Úc.
Kanguru là một phần có ý nghĩa văn hóa và tinh thần đối với nhiều người Úc bản địa. Kể từ khi được phát hiện ở châu Âu, theo thời gian, chuột túi đã trở thành biểu tượng cho nước Úc và các giá trị của nước Úc, xuất hiện trên quốc huy và ở nhiều tiểu bang và thành phố, các biểu tượng của Úc như logo Qantas, tên của các đội thể thao ở Úc, làm linh vật. Trong nghệ thuật đại chúng, Kanguru cũng có màn thể hiện rất tốt trong phim ảnh, hoạt hình, truyền hình, bài hát, đồ chơi trẻ em và quà lưu niệm trên khắp thế giới.
Ban đầu thì con kangaroo được coi là một loài thú có hình thù kỳ dị độc nhất vô nhị khi Thuyền trưởng Cook quay trở lại Anh vào năm 1771 cùng với một mẫu vật sống trên tàu HMS Endeavour. Sau đó nhà tự nhiên học Joseph Banks trong chuyến hành trình "Endeavour" đã ủy quyền cho George Stubbs vẽ một bức chân dung về mẫu vật chuột túi. Khi tường thuật chính thức về chuyến đi được xuất bản vào năm 1773, chuột túi được minh họa bằng hình khắc con Kangaroo của danh họa Stubbs. Kể từ thời điểm đó, Kangaroo nhanh chóng trở thành biểu tượng của lục địa Úc, xuất hiện trong các cuộc triển lãm, bộ sưu tập, tác phẩm nghệ thuật và in ấn trên khắp châu Âu. Phải mất một thời gian dài thì chuột túi mới được chính thức công nhận ở Úc. Mặc dù được coi là ""loài thú có hại" vì nổi tiếng phá hoại mùa màng, phá đổ hàng rào và cạnh tranh tài nguyên với các loài vật nuôi, đến cuối cùng thì chuột túi cũng đã được công nhận chính thức khi được đưa lên quốc huy của Úc vào năm 1908. Kangaroo hiện được coi là động vật biểu tượng (linh vật) không chính thức của nước Úc, đất nước này được gọi là "Xứ sở chuột túi"". |
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Mười Bốn Từ (còn viết tắt là 14 hoặc 14/88) ý chỉ đến hai khẩu hiệu của David Eden Lane, một trong chín thành viên sáng lập của tổ chức khủng bố ly khai da trắng không còn tồn tại là The Order, và đi kèm với "88 giới luật" cũng của Lane. Các khẩu hiệu này như một lời kêu gọi tập hợp các chiến binh theo chủ nghĩa dân tộc da trắng trên phạm vi quốc tế.
Khẩu hiệu Mười bốn từ là "We must secure the existence of our people and a future for white children" (Tạm dịch: "Ta phải bảo tồn dân tộc mình và tương lai cho thế hệ sau"), kèm theo là khẩu hiệu phụ "Because the beauty of the White Aryan woman must not perish from the Earth" (Tạm dịch: "Vì vẻ đẹp người phụ nữ Aryan không được lụi tàn khỏi Trái đất").
Hai khẩu hiệu này được đặt ra trước khi Lane thụ án 190 năm tù liên bang vì vi phạm quyền công dân của người dẫn chương trình trò chuyện người Do Thái là Alan Berg, người đã bị một thành viên khác của tổ chức sát hại vào tháng 6 năm 1984. Chúng đã được phổ biến rộng rãi sau khi Lane bị cầm tù.
Lane đã sử dụng mã số "14-88" một cách rộng rãi trong suốt các lĩnh vực tâm linh, chính trị, tôn giáo và triết học của mình và đặc biệt là trong tuyên ngôn "88 Precepts" ("88 Giới luật") của ông. "Mười Bốn Từ" hiện nay được sử dụng rộng rãi bởi những người theo chủ nghĩa tân quốc xã, da trắng thượng đẳng, chủ nghĩa dân tộc da trắng và Alt-right.
'88' được một số người sử dụng làm cách viết tắt của "Heil Hitler", 'H' là chữ cái thứ 8 trong bảng chữ cái tiếng Anh, mặc dù Lane coi chủ nghĩa quốc xã cùng tội ác của Adolf Hitler là giả và được dàn dựng lên bởi người Do Thái.
Hệ tư tưởng của Lane là bài Hoa Kỳ, chủ nghĩa ly khai và chủ nghĩa dân tộc da trắng; ông coi việc trung thành với chính phủ Hoa Kỳ là "sự phản bội chủng tộc" và ủng hộ cụm từ viết tắt "Chủng tộc ta là Quốc gia ta" ("Our Race Is Our Nation", hay ORION), cho rằng Hoa Kỳ đang diệt chủng người da trắng như một phần của kế hoạch Trật tự Thế giới Mới nhằm xây dựng một chính phủ Do Thái toàn cầu. |
Người Hungary tại Ukraina
Người Hungary tại Ukraina (, , "uhortsi v Ukraini") có số lượng 156.600 người theo điều tra nhân khẩu Ukraina năm 2001 và là dân tộc thiểu số lớn thứ ba trong cả nước. Người Hungary chủ yếu tập trung tại tỉnh Zakarpattia (đặc biệt là tại huyện Berehove và thành phố Berehove), tại tỉnh này họ là nhóm thiểu số lớn nhất và chiếm 12,1% tổng dân số (12,7% khi tính theo ngôn ngữ mẹ đẻ). Tại khu vực dọc biên giới Ukraina với Hungary (thung lũng sông Tisza), người Hungary chiếm đa số.
Vùng Ngoại Karpat là một phần của Hungary kể từ khi người Hungary chinh phục lưu vực Karpat vào cuối thế kỷ thứ 9, cho đến năm 1918. Về mặt lịch sử, đây là một trong các lãnh địa của Vương quốc Hungary trước khi nó được tách ra khỏi Vương quốc và gắn liền tạm thời với Tiệp Khắc mới được thành lập vào năm 1918, sau khi Áo-Hung tan rã do Chiến tranh thế giới thứ nhất. Điều này sau đó được xác nhận theo Hiệp ước Trianon vào năm 1920.
Vùng Zakarpattia từng là một phần của Cộng hòa Nhân dân Tây Ukraina tồn tại trong thời gian ngắn vào năm 1918 và bị Vương quốc Romania chiếm đóng vào cuối năm đó. Sau đó khu vực được Hungary chiếm lại vào mùa hè năm 1919. Sau thất bại của tàn quân Hungary vào năm 1919, Hội nghị Hòa bình Paris đã ký kết Hiệp ước Trianon trao Zakarpattia cho Tiệp Khắc mới thành lập với tư cách là Rus' Hạ Karpat, một trong bốn vùng chính của Tiệp Khắc, các vùng còn lại là Bohemia, Moravia và Slovakia.
Hungary tìm cách khôi phục biên giới lịch sử của mình và sửa đổi Hiệp ước Trianon. Vào ngày 2 tháng 11 năm 1938, Quyết định Wien thứ nhất tách một số lãnh thổ khỏi Tiệp Khắc, bao gồm cả miền nam Rus' Hạ Karpat có cư dân hầu hết là người Hungary và giao lại chúng cho Hungary.
Phần còn lại được lập thành một khu tự trị trong Cộng hòa Tiệp Khắc thứ hai đoản mệnh. Sau khi Đức chiếm đóng Bohemia và Moravia vào ngày 15 tháng 3 năm 1939, và Slovakia tuyên bố là một nhà nước độc lập, Ruthenia tuyên bố độc lập (Cộng hòa Karpat-Ukraina)
Chính phủ Teleki và Miklós Horthy của Hungary được Hitler thông báo vào ngày 12 tháng 3 rằng họ có 24 giờ để giải quyết vấn đề người Ruthenia. Hungary phản ứng ngay lập tức bằng việc chiếm đóng quân sự toàn bộ Ruthenia Karpat. Kết quả của việc sáp nhập là Hungary có được một lãnh thổ với 552.000 cư dân, 70,6% trong số đó là người Ruthenia, 12,5% là người Hungary, và 12% là người Đức Karpat.
Khu vực này vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của Hungary cho đến khi Thế chiến thứ hai tại châu Âu kết thúc, sau đó bị Liên Xô chiếm đóng và sáp nhập. Hungary phải từ bỏ các lãnh thổ giành được theo Quyết định Wien trong Hiệp định đình chiến được ký tại Moskva vào ngày 20 tháng 1 năm 1945. Việc từ bỏ được xác nhận lại tại Hội nghị Hòa bình Paris năm 1946 và được ghi nhận trong Hiệp ước Hòa bình năm 1947.
Năm 1944, khi Quân đội Liên Xô vượt qua biên giới Tiệp Khắc trước năm 1938, chính quyền Liên Xô từ chối cho phép các quan chức chính phủ Tiệp Khắc tiếp tục kiểm soát khu vực, và vào tháng 6 năm 1945, Tổng thống Edvard Beneš chính thức ký một hiệp ước nhượng lại khu vực này cho Liên Xô. Sau đó khu vực được sáp nhập vào Ukraina Xô viết. Sau khi Liên Xô tan rã, khu vực trở thành một phần của Ukraina độc lập với tên gọi tỉnh Zakarpattia.
Hungary là một trong các quốc gia đầu tiên công nhận nền độc lập của Ukraina. Tổng thống Hungary khi đó là Árpád Göncz được mời đến thăm khu vực, một hiệp ước cấp nhà nước vào tháng 12 năm 1991 thừa nhận rằng dân tộc Hungary thiểu số có các quyền lợi tập thể như cũng như cá nhân. Hiệp ước quy định việc bảo tồn bản sắc dân tộc, văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo của họ; giáo dục các cấp bằng tiếng mẹ đẻ; và sự tham gia của người dân tộc Hungary vào cơ quan địa phương chịu trách nhiệm về các vấn đề thiểu số.
Việc người Hungary thiểu số tại Ukraina có cả quốc tịch Ukraina và quốc tịch Hungary là khá phổ biến, mặc dù hiện tại luật pháp Ukraina không công nhận quốc tịch kép.
Trong bầu cử Nghị viện Châu Âu năm 2014 tại Hungary, Andrea Bocskor sống tại Ukraina (tại thành phố Berehove) được bầu vào Nghị viện Châu Âu (cho Fidesz). Do đó, Bocskor, người dân tộc Hungary và là công dân Hungary, trở thành thành viên được bầu đầu tiên của Nghị viện Châu Âu có cả hộ chiếu Ukraina.
Kể từ năm 2017, quan hệ Hungary-Ukraina nhanh chóng xấu đi do vấn đề luật giáo dục của Ukraina. Luật giáo dục năm 2017 của Ukraina quy định tiếng Ukraina là ngôn ngữ bắt buộc của giáo dục tiểu học ở các trường công lập từ lớp 5 trở đi. László Brenzovics, vào thời điểm đó là người dân tộc Hungary duy nhất trong Verkhovna Rada (quốc hội của Ukraina), nói rằng "Có một loại chính sách có mục đích, ngoài việc thu hẹp quyền lợi của tất cả các nhóm thiểu số, còn cố gắng miêu tả nhóm thiểu số Hungary là kẻ thù trong công luận Ukraina." Tình hình kể từ đó vẫn tiếp tục có khó khăn, khi Hungary tiếp tục ngăn cản nỗ lực của Ukraina nhằm hội nhập vào EU và NATO do tranh chấp về quyền của người thiểu số.
Cư dân tại bảy ngôi làng của huyện Mukachivskyi có quyền lựa chọn học tiếng Hungary trong môi trường trường học hoặc trường học tại nhà. Trường Cao đẳng tiếng Hungary đầu tiên ở Ukraina nằm ở Berehovo là Cao đẳng II. Rákoczi Ferenc. Năm 2017 có 71 trường học Hungary ở Ukraina với 16.000 học sinh theo học.
Liên đoàn Dân chủ Hungary tại Ukraina (UMDSZ) là tổ chức dân tộc Hungary duy nhất được đăng ký trên toàn quốc. Nó được thành lập vào tháng 10 năm 1991 bởi Liên đoàn văn hóa Hungary tại Ngoại Karpat (KMKSZ, đã đình chỉ tư cách thành viên từ năm 1995), Liên đoàn văn hóa Hungary tại Lviv và Hiệp hội người Hungary tại Kyiv. Liên đoàn Văn hóa Hungary tại Ngoại Karpat được liên kết với đảng chính trị KMKSZ – Đảng người Hungary tại Ukraina, được thành lập vào tháng 2 năm 2005. Vào tháng 3 năm 2005, Bộ Tư pháp Ukraina cũng cho đăng ký Đảng Dân chủ Hungary tại Ukraina theo sáng kiến của UMDSZ. Zoltan Lengyel được bầu làm thị trưởng Mukachevo sau cuộc bầu cử vào ngày 1 tháng 12 năm 2008. UMDSZ cũng giành chiến thắng tại các đô thị Berehove, Vinohradiv và Tiachiv trong cuộc bầu cử này.
Dữ liệu sau đây theo điều tra dân số Ukraina năm 2001.
Di sản văn hoá.
Di sản văn hóa Hungary tại Ukraina bao gồm các lâu đài thời trung cổ: |
Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Pháp
Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Pháp (), thường gọi là Đại sứ quán Nam Việt Nam tại Pháp, là cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa (Nam Việt Nam) tại thủ đô Paris của Pháp từ năm 1954 cho đến khi buộc phải đóng cửa vào tháng 4 năm 1975 do Sài Gòn thất thủ.
Ban đầu gọi là Cao ủy Quốc gia Việt Nam tại Pháp được thành lập vào tháng 9 năm 1952, Sau khi Việt Nam Cộng hòa hình thành ngày 26 tháng 10 năm 1955, cơ quan này mới đổi sang tên gọi Cao ủy Việt Nam Cộng hòa tại Pháp về sau nâng cấp lên Đại sứ quán vào tháng 7 năm 1956, rồi đổi tên thành Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Pháp cho đến khi đóng cửa vào tháng 4 năm 1975.
Danh sách Đại sứ.
Cao ủy Quốc gia Việt Nam → Việt Nam Cộng hòa tại Pháp (1952–1956).
Tháng 9 năm 1952, Quốc gia Việt Nam thành lập Cao ủy tại Pháp. Năm 1956, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thiết lập quan hệ ngoại giao với Chính phủ Pháp. Cùng năm, cơ quan đại diện ngoại giao của hai nước được nâng cấp từ Cao ủy lên đại sứ quán.
Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Pháp (1956–1975).
Tháng 7 năm 1956, hai nước đã thăng cấp đặc phái viên thường trú lên đại sứ. |
Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam Cộng hòa
Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam Cộng hòa (), thường gọi là Đại sứ quán Pháp tại Nam Việt Nam, là cơ quan đại diện ngoại giao của Pháp tại thủ đô Sài Gòn của Việt Nam Cộng hòa (Nam Việt Nam), hoạt động cho đến khi Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì buộc phải đóng cửa.
Ban đầu gọi là Cao ủy Pháp tại Quốc gia Việt Nam được thành lập vào năm 1949. Sau khi Việt Nam Cộng hòa hình thành ngày 26 tháng 10 năm 1955, nó được đổi tên thành Cao ủy Pháp tại Việt Nam Cộng hòa rồi về sau nâng cấp thành đại sứ quán vào năm 1956 và đổi tên thành Đại sứ Pháp tại Việt Nam Cộng hòa. Đại sứ quán bị giáng cấp xuống Tổng lãnh sự quán Pháp tại Sài Gòn vào ngày 24 tháng 6 năm 1965 sau khi Việt Nam Cộng hòa tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Pháp. Đại sứ quán chỉ được tái lập vào năm 1973 sau khi Pháp và Việt Nam Cộng hòa khôi phục quan hệ ngoại giao cho đến khi đóng cửa vào năm 1975.
Danh sách Đại sứ.
Cao ủy Pháp tại Việt Nam → Việt Nam Cộng hòa (1949–1956).
Năm 1949, Pháp thành lập Cao ủy tại Việt Nam. Năm 1956, chính phủ Pháp thiết lập quan hệ ngoại giao với chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Cùng năm, cơ quan đại diện ngoại giao của hai nước được nâng cấp từ Cao ủy lên Đại sứ quán.
Đại sứ Pháp tại Việt Nam Cộng hòa (1956–1965).
Năm 1956, hai nước đã nâng cấp đặc phái viên thường trú của mình lên đại sứ.
Tổng lãnh sự Pháp tại Sài Gòn (1965–1973).
Ngày 24 tháng 6 năm 1965, Việt Nam Cộng hòa tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Pháp. Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam Cộng hòa bị hạ cấp thành Tổng lãnh sự quán ở Sài Gòn.
Đại sứ Pháp tại Việt Nam Cộng hòa (1973–1975).
Năm 1973, Pháp và Việt Nam Cộng hòa nối lại quan hệ ngoại giao. Pháp mở lại đại sứ quán tại Việt Nam Cộng hòa. |
Công viên Chelsea Waterside
Công viên Chelsea Waterside (tiếng Anh: "Chelsea Waterside Park"), trước đây gọi là Công viên Thomas F. Smith, là một công viên nằm ở Phố 23 Tây, giữa Đại lộ 11 và Đại lộ 12, dọc theo Đường cao tốc Bờ Tây ở Chelsea, Manhattan, Thành phố New York. Tính đến năm 2023, công viên là một phần của khu Chelsea thuộc Công viên Sông Hudson và được quản lý bởi Quỹ Công viên Sông Hudson.
Công viên ban đầu là địa điểm của một sân vận chuyển hàng hóa nhỏ cho Đường sắt Erie. Năm 1906, đường sắt đã phát triển lại địa điểm thành một công viên như một phần của việc tái thiết bến phà liền kề. Năm 1915, công viên được Sở Công viên tiếp quản và được đặt tên theo chính trị gia Thomas Francis Smith sau khi ông qua đời vào năm 1923. Việc xây dựng Đường cao tốc West Side Elevated vào đầu những năm 1930 đã chia công viên thành hai phần liền kề. |
Camazotz là một linh hồn dơi phục vụ các chúa tể của thế giới ngầm trong Thần thoại Maya của cuốn thánh kinh Popol Vuh. Camazotz có nghĩa là “"dơi tử thần"” trong tiếng K’iche của người Maya tại Guatemala, có nguồn gốc sâu xa trong thần thoại Trung bộ Châu Mỹ (Mesoamerica). Sinh vật này được miêu tả như một loại dơi sống trong hang động rất nguy hiểm. Camazotz còn là sinh vật quái dị sinh sống trong hang động được gọi là “"ngôi nhà của loài dơi"” trong Popl Vuh. Ở Mesoamerica nói chung, con dơi thường gắn liền với màn đêm, cái chết và sự hiến tế. Trong Popol Vuh thì Camazotz là những linh hồn giống dơi mà Bộ đôi anh hùng Maya là Hunahpu và Xbalanque gặp phải trong quá trình thử thách ở thế giới ngầm Xibalba.
Có nhiều giả thuyết lý giải về nguồn gốc của Camazotz, một trong số đó có đề cập đến việc chúng được sáng tạo dựa trên loài dơi hút máu khổng lồ đã tuyệt chủng ở thời kỳ Pleistocene hoặc Holocene. Có một số suy đoán cho rằng thần chết của người Maya cổ đại có liên quan đến một loài đã tuyệt chủng tên là Desmodus draculae là một loài dơi ma cà rồng mũi lá có nguồn gốc ở cả Trung Mỹ và Nam Mỹ. Trong biểu tượng của người Maya cổ điển, dơi mũi lá sẽ thở ra hơi thở độc hại, thường được miêu tả là linh hồn nahual hoặc wayob của một người mang bệnh tật đến một kẻ thù.
Thuở xa xưa, có những tín ngưỡng sùng bái sinh vật này xuất hiện trong cộng đồng người da đỏ Zapotec ở Oaxaca, Mexico. Camazotz sống trong hang động có tên Zotzilaha. Người ta miêu tả Camazotz có thân hình gần giống người, đầu dơi và có mũi gần giống dao đá lửa. Camazotz thường tấn công các nạn nhân bằng vào cổ và chặt đầu họ. Camazotz xuất hiện một lần nữa trong chương II của Popol Vuh, nơi chúng ta thấy rằng một sứ giả từ thế giới ngầm trong hình dạng một người đàn ông với đôi cánh của một con dơi, xuất hiện trên bề mặt để môi giới một thỏa thuận giữa Chúa Tohil và loài người. Hình tượng Camazot được đưa vào đền thờ của bộ tộc Maya là Quiche và trở thành các truyền thuyết dơi tử thần được ghi lại trong văn học Maya.
Camazots cuối cùng đã tìm thấy vị trí của mình trong văn hóa người Quiche, một bộ tộc Maya sống trong những khu rừng nhiệt đới mà ngày nay là Guatemala và Honduras. Người K'iche nhanh chóng đồng nhất thần dơi với thần Zotzilaha Chamalcan của họ, tức là thần lửa. Người ta đã tìm thấy những ngôi đền hình móng ngựa Nahua dành để thờ thần dơi. Bàn thờ của họ được làm bằng vàng ròng và hướng về phương Đông. Người ta tin rằng thần dơi có quyền năng chữa khỏi mọi bệnh tật, nhưng cũng có quyền cắt đứt sợi dây thần thánh của sự sống gắn kết thể xác với linh hồn. Các thầy tế Nahua thường cầu khẩn thần dơi khi mong ước về sức khỏe. |
Sarina Isabel Calpo Bolden (sinh ngày 30 tháng 6 năm 1996 tại Santa Clara, California, Hoa Kỳ) là một cầu thủ bóng đá từng thi đấu ở vị trí hậu vệ và tiền đạo cho câu lạc bộ đang thi đấu ở A-League Western Sydney Wanderers. Sinh ra tại Hoa Kỳ, cô thi đấu cho đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Philippines.
Cô được biết đến là cầu thủ đầu tiên của bóng đá nữ Philippines ghi bàn thắng tại một kỳ Giải vô địch bóng đá nữ thế giới. Cô cũng là chủ nhân của bàn thắng duy nhất vào lưới của đội đồng chủ nhà New Zealand tại giải đấu năm 2023, đem về chiến thắng lịch sử cho bóng đá nữ Philippines trên đấu trường quốc tế.
Sarina Bolden sinh ngày 30 tháng 6 năm 1996 tại Santa Clara, California, Hoa Kỳ, có cha là người Hoa Kỳ và mẹ là người Philippines và có một người em trai. Cô từng theo học tại Trường Trung học Milpitas, nơi cô từng thi đấu cho đội bóng đá và bóng mềm nữ.
Cô từng tốt nghiệp Đại học Loyola Marymount, nơi cô đã từng thi đấu cho đội bóng đá nữ của trường đại học này. Cô đã có đội 6 bàn thắng cho đội bóng của mình vào năm 2016.
Sự nghiệp câu lạc bộ.
Năm 2020, cô thi đấu cho câu lạc bộ Tân Bắc Hàng Nguyên thuộc Mulan League của Đài Loan. Sau đó, cô chuyển sang thi đấu cho câu lạc bộ San Francisco Nighthawks của Giải bóng đá nữ Ngoại hạng Hoa Kỳ.
Năm 2021, cô ký hợp đồng với câu lạc bộ Chifure AS Elfen Saitama đang thi đấu tại WE League của Nhật Bản. Cô ra mắt Saitama trong trận thua 1–4 của đội bóng này trước Tokyo Verdy Beleza vào ngày 10 tháng 10 năm 2021, trận đấu mà cô được tung vào sân từ băng ghế dự bị từ phút thứ 62 của trận đấu.
Vào tháng 12 năm 2022, cô chính thức chia tay Elfen Saitama để chuyển sang thi đấu cho câu lạc bộ của Úc Western Sedney Wanderers. Trong thời gian diễn ra mùa giải 2023–2024 của A-League Women, cô không tái ký hợp đồng với Western Sedney Wanderers.
Sau 5 vòng đấu tại mùa giải 2023–2024, cô đầu quân cho câu lạc bộ Newcastle Jets và ghi được một cú đúp.
Sự nghiệp quốc tế.
Vào cuối năm 2017, cô được triệu tập lên đội tuyển nữ Philippines và nhận được sự chú ý của Richard Boon, lúc đó đang là huấn luyện viên trưởng của đội. Sau đó, cô có tên trong danh sách chính thức của Philippines tham dự Cúp bóng đá nữ châu Á 2018 diễn ra tại Jordan.
Trong trận đấu ra quân gặp chủ nhà Jordan, Bolden đã có trận ra mắt cho đội tuyển quốc gia. Cô ghi bàn thắng quyết định đem về chiến thắng 2–1 trước đội chủ nhà.
Cô tiếp tục có tên trong danh sách chính thức của Philippines tham dự Cúp bóng đá nữ châu Á 2022 diễn ra tại Ấn Độ. Philippines giành vé vào vòng đấu loại trực tiếp lần đầu tiên trong lịch sử các lần tham dự Cúp bóng đá nữ châu Á. Trong trận đấu tứ kết gặp Đài Bắc Trung Hoa, cô ghi bàn thắng mở tỷ số và cũng là người thực hiện thành công trong cú sút penalty quyết định (hai đội hòa nhau 1–1 sau 120 phút) giúp bóng đá Philippines lần đầu tiên trong lịch sử có đại diện tham dự một giải đấu do FIFA tổ chức – Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023 diễn ra tại Úc và New Zealand. Tại giải đấu đó, Bolden làm nên lịch sử khi trở thành cầu thủ đầu tiên của Philippines ghi bàn thắng tại một kỳ Giải vô địch bóng đá nữ thế giới khi ghi bàn thắng duy nhất, mang về thắng lợi 1–0 trước đội đồng chủ nhà New Zealand, qua đó mang về thắng lợi lịch sử cho bóng đá nữ Philippines.
Anh chị em họ của Bolden là Jalen Brown và Ryanne Brown đều là những cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp. |
Quan hệ Armenia - Nga
Quan hệ song phương giữa Armenia thời hiện đại và Liên bang Nga được thiết lập vào ngày 3 tháng 4 năm 1992, mặc dù Nga đã là một bên giữ vai trò quan trọng ở Armenia kể từ đầu thế kỷ 19. Mối quan hệ lịch sử của hai nước bắt nguồn từ Chiến tranh Nga-Ba Tư năm 1826 đến 1828 giữa Đế quốc Nga và Qajar Ba Tư, sau đó Đông Armenia được nhượng lại cho Nga. Hơn nữa, Nga được coi là nước bảo hộ các thần dân Thiên chúa giáo trong Đế chế Ottoman, bao gồm cả người Armenia. Sau khi Liên Xô tan rã, Armenia đã chia sẻ cách tiếp cận của Nga nhằm củng cố Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG).
Armenia và Nga đều là thành viên của một liên minh quân sự là Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (CSTO), cùng với bốn quốc gia thuộc Liên Xô cũ khác, một mối quan hệ mà Armenia thấy cần thiết cho nền an ninh của mình. Trong số các hợp đồng và thỏa thuận xác định quan hệ liên chính phủ - hiệp ước hữu nghị, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau ngày 29 tháng 8 năm 1997 có một số tài liệu quy định các căn cứ của các đơn vị quân đội Nga và liên lạc viên ở Armenia. Armenia trở thành thành viên chính thức của Liên minh kinh tế Á-Âu vào ngày 2 tháng 1 năm 2015. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, quan hệ giữa Nga và Armenia đã bắt đầu xấu đi do các sự kiện như Chiến tranh Nagorno-Karabakh năm 2020, cuộc đụng độ Armenia-Azerbaijan tháng 9 năm 2022, cuộc xâm lược Ukraina của Nga và đặc biệt là cuộc đụng độ Nagorno-Karabakh năm 2023.
Mối quan hệ giữa chính phủ hai nước trở nên căng thẳng sau khi Nikol Pashinyan được bầu làm thủ tướng Armenia vào tháng 5 năm 2018. Pashinyan được các chính trị gia và truyền thông Nga so sánh với Petro Poroshenko của Ukraina, người được bầu làm tổng thống ngay sau cuộc cách mạng Ukraina thân phương Tây năm 2014. Căng thẳng càng gia tăng sau vụ bắt giữ cựu tổng thống Robert Kocharyan và tổng thư ký CSTO là Yury Khatchaturov cũng như các tranh chấp kinh doanh liên quan đến các công ty Nga hoạt động tại Armenia. Nga được xem là miễn cưỡng can thiệp công khai vào cuộc chiến Nagorno-Karabakh năm 2020 để ủng hộ Armenia do căng thẳng đang diễn ra giữa Putin và Pashinyan. Cuối cùng, Nga đã tổ chức các cuộc đàm phán hòa bình giữa Azerbaijan và Armenia, đỉnh điểm là thỏa thuận ngừng bắn vào ngày 10 tháng 10 năm 2020 sau đó đã bị cả hai bên phớt lờ. Chiến tranh tạm dừng khi các nhà lãnh đạo của bên tham chiến và tổng thống Nga ký thỏa thuận đình chiến ở Moskva vào ngày 9 tháng 11 năm 2020.
Vào ngày 3 tháng 9 năm 2023, trong một cuộc phỏng vấn, thủ tướng Nikol Pashinyan tuyên bố rằng việc Armenia chỉ dựa vào Nga để đảm bảo an ninh của mình là một sai lầm chiến lược. Pashinyan tuyên bố, ""Moskva đã không thể thực hiện và đang trong quá trình giảm bớt vai trò của mình ở khu vực Nam Kavkaz rộng lớn hơn" và "Liên bang Nga không thể đáp ứng nhu cầu an ninh của Armenia. Ví dụ này sẽ chứng minh cho chúng ta thấy rằng sự phụ thuộc vào chỉ một đối tác trong vấn đề an ninh là một sai lầm chiến lược"." Pashinyan cáo buộc lực lượng gìn giữ hòa bình Nga được triển khai để duy trì thỏa thuận ngừng bắn đã không thực hiện nhiệm vụ của mình. Pashinyan xác nhận rằng Armenia đang cố gắng đa dạng hóa các thỏa thuận an ninh của mình, đáng chú ý nhất là với Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ.
Vào tháng 3 năm 2022, sau khi Nga bắt đầu xâm lược Ukraina thì đã có hơn 40.000 chuyên gia và lập trình viên người Nga đã trốn đến Yerevan. Một nửa ở lại một thời gian ngắn rồi đi tiếp. Phần còn lại sử dụng kết nối internet giúp Armenia kết nối với thế giới trong khi Nga ngày càng bị cắt đứt liên hệ với thế giới bên ngoài. Ngoài các chuyên gia công nghệ thông tin, cuộc di cư còn có nhiều blogger, nhà báo và nhà hoạt động xã hội bị bắt vì chỉ trích cuộc chiến ở Ukraina cũng lưu vong qua đây. Các cuộc phỏng vấn chỉ ra rằng không ai trong số những người lưu vong gặp phải sự thù địch ở Yerevan. Họ có thể vào Armenia mà không cần thị thực hoặc hộ chiếu và ở lại sáu tháng trong khi tiếng Nga được sử dụng rộng rãi tại đây.
Mối quan hệ giữa Armenia và Nga tiếp tục xấu đi trong suốt cuộc xâm lược Ukraina của Nga. Tháng 2 năm 2023, Armenia từ chối quay sang Moskva để đàm phán trong khi hành lang Lachin bị đóng cửa. Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov đã công khai thừa nhận lý do căn bản của Azerbaijan về hành động xâm lược năm 2020 Điều này càng leo thang khi Tòa án Hình sự Quốc tế tuyên bố vào ngày 17 tháng 3 năm 2023 rằng họ đã ban hành lệnh bắt giữ Putin. Vì Armenia là một bên ký kết Quy chế Roma, Armenia sẽ có nghĩa vụ pháp lý bắt giữ Vladimir Putin nếu ông ta vào lãnh thổ Armenia. Vào tháng 4 năm 2023, Nga ban hành lệnh cấm nhập khẩu các chế phẩm sữa của Armenia, được nhiều người coi là động thái trả đũa đối với Armenia
Vào ngày 2 tháng 6 năm 2023, Thủ tướng Armenia Nikol Pashinyan tuyên bố rằng Armenia không phải là đồng minh của Nga trong bối cảnh cuộc chiến ở Ukraina. Vào ngày 3 tháng 9, Pashinyan tuyên bố thêm rằng việc dựa vào Nga làm người bảo đảm an ninh chính đã chứng tỏ là một sai lầm đối với Armenia. Ba ngày sau, chính phủ Nga bày tỏ lo ngại về ý định tổ chức các cuộc tập trận quân sự với Hoa Kỳ của Armenia, như một phần trong nỗ lực của Armenia nhằm cải thiện hơn nữa quan hệ quốc phòng với các nước phương Tây. Mối quan hệ thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn sau cuộc đụng độ Nagorno-Karabakh năm 2023 và cuộc di cư sau đó của người dân Artsakh thuộc dân tộc Armenia. Thư ký Hội đồng An ninh Quốc gia Armenia là Armen Grigoryan cáo buộc lực lượng gìn giữ hòa bình Nga không bảo vệ được Nagorno-Karabakh điều này cũng được Pashinyan nhắc lại. Chủ tịch Hội đồng An ninh Nga Dmitry Medvedev cho biết Nga sẽ không bảo vệ Armenia trước cuộc tấn công của Azerbaijan, đồng thời chỉ trích mạnh mẽ Thủ tướng Armenia Nikol Pashinyan.
Người phát ngôn của Tổng thống Nga là Dmitry Peskov bác bỏ cáo buộc từ Armenia rằng lực lượng gìn giữ hòa bình của nước này đã không bảo vệ được Nagorno-Karabakh khỏi cuộc tấn công của Azerbaijan, gọi đây là điều "vô căn cứ". Cơ quan truyền thông độc lập của Nga Meduza cho biết họ đã nhận được một tài liệu hướng dẫn từ Điện Kremlin lưu hành vào ngày 19 tháng 9 tới các cơ quan truyền thông nhà nước khuyến nghị đổ lỗi cho Armenia và phương Tây, thay vì Azerbaijan, về sự leo thang của xung đột ở Nagorno-Karabakh. Phát biểu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc lần thứ 78 tại thành phố New York vào ngày 23 tháng 9 năm 2023, Bộ trưởng Ngoại giao Sergei Lavrov cáo buộc lãnh đạo Armenia đã "đổ thêm dầu vào lửa", ám chỉ xung đột và nhắc lại rằng các thỏa thuận được thực hiện sau sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 tuyên bố rằng biên giới hiện tại của các nước cộng hòa cấu thành trước đây là bất khả xâm phạm, từ đó công nhận Nagorno-Karabakh là một phần của Azerbaijan Vào ngày 25 tháng 9, Bộ Ngoại giao Nga đã công bố một tuyên bố chỉ trích kịch liệt Chính phủ Armenia, đánh dấu cột mốc thấp nhất trong quan hệ giữa hai nước kể từ khi Armenia độc lập vào năm 1991. |
Hội đồng tối cao Cộng hòa Litva
Hội đồng tối cao Cộng hòa Litva ("Lietuvos Respublikos Aukščiausioji Taryba", còn được biết đến với cái tên "Hội đồng tối cao - Seimas phục hồi", tiếng Litva: "Aukščiausioji Taryba – Atkuriamasis Seimas"), là cơ quan quản lý tối cao, được bầu vào năm 1990. Phiên họp đầu tiên được tổ chức vào ngày 10 tháng 3 năm 1990, lần cuối cùng vào ngày 11 tháng 11 năm 1992.
Như đã nêu trong Luật cơ bản lâm thời của Cộng hòa Litva (1990), Hội đồng tối cao có các quyền hạn như sau:
Hoạt động chính trị.
Ngay từ khi thành lập Hội đồng Tối cao vào ngày 11 tháng 3 năm 1990, Litva đã thông qua Đạo luật Tái lập Nhà nước Litva . Vào ngày 12 tháng 3, Hội đồng Tối cao đã thông qua Nghị quyết tuyên bố luật nghĩa vụ quân sự phổ cập của Liên Xô thông qua ngày 12 tháng 10 năm 1967 sẽ không có hiệu lực ở Cộng hòa Litva. Hội đồng cũng tuyên bố quốc hữu hóa tất cả tài sản của Liên Xô nằm ở Litva. Chỉ ba ngày sau, vào ngày 15 tháng 3, Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô đã thông qua một nghị quyết, không chấp nhận việc khôi phục nền độc lập của Cộng hòa Litva. Đại hội đã thông qua nghị quyết này với 1.463 đại biểu nhân dân bỏ phiếu tán thành, 98 phiếu chống và 128 phiếu trắng.
Việc phong tỏa kinh tế từ Liên Xô khiên kinh tế của đất nước đình trệ và các quốc gia nước ngoài không công nhận nền độc lập của Litva. Nhưng vào ngày 6 tháng 9 năm 1991, sau nỗ lực đảo chính thất bại của Liên Xô năm 1991, chính phủ Liên Xô đã chính thức công nhận nền độc lập của Litva và các quốc gia vùng Baltic khác, đồng thời dỡ bỏ lệnh phong tỏa.
Trong nửa đầu năm 1992, đa số trong quốc hội đã thay đổi. Cho đến cuối năm 1991, nhóm nghị viện Sąjūdis Thống nhất vẫn chiếm đa số. Các thành viên của liên minh vào cuối năm 1991 và đầu năm 1992 dần dần chuyển sang các nhóm nghị viện khác (ví dụ, Nhóm nghị viện Thứ bảy/Ôn hòa). Điều này dẫn đến cuộc tranh đấu nội bộ giữa nhóm nghị viện Sąjūdis Thống nhất (cùng với chính phủ do Vagnorius lãnh đạo) và một nhóm là 'Đa số mới' ().
Điều này đã gây ra sự bế tắc trong quốc hội khi cả hai nhóm tổ chức các phiên họp riêng biệt hoặc nhóm nghị viện Sąjūdis Thống nhất tẩy chay các phiên họp chính thức. Vào ngày 9 tháng 7 năm 1992, Hội đồng Tối cao đã bỏ phiếu cho cuộc bầu cử nhanh chóng diễn ra vào ngày 25 tháng 10 năm 1992 . |
Danh sách quân chủ Đế quốc Sasan
Dưới đây là danh sách quân chủ của nhà Sasan, những người đã lật đổ sự cai trị của đế quốc tiền nhiệm Parthia tại trận Hormozdgan năm 224. Đế quốc thời kỳ đỉnh cao bao trùm toàn bộ Iran, vươn tới tận Thổ Nhĩ Kỳ và đảo Rhodes ở phía Tây và Pakistan ở phía Đông, cũng như bao gồm một phần lãnh thổ vùng Kavkaz, Yemen, Oman, Ai Cập, UAE, Syria, Jordan và vùng Trung Á.
Vương triều Sassanids bắt đầu từ Ardashir I, một trong những quý tộc và vương phó Iran tại vùng Istakhr và kết thúc khi Yazdegerd III mất vào năm 651. Tuy nhiên giữa các thời điểm khi Boran mất và khi Yazdegerd III lên ngôi (khoảng giữa các năm 631 và năm 632) rất khó xác định người cai trị do những người kế nhiệm trong khoảng thời gian này bị phế truất hoặc bị các kẻ tiếm vị khác thuộc nhà Sasan cạnh tranh ngôi vị.
Adashir, người khai sinh là đế quốc Sasan, là người đầu tiên sử dụng danh xưng "Shahanshah của người Iran" (Tiếng Ba Tư trung đại: "šāhān šāh ī ērān"; Tiếng Parthia: "šāhān šāh ī aryān"). Người kế nhiệm Adashir, Shapur I, đã để lại những ghi chép danh xưng cho những người tiền nhiệm mình trên bức phù điêu tại Ka'ba-ye Zartosht. Trên bức phù điêu này thì Adashir gọi họ bằng những danh xưng khác nhau và nhìn chung có vẻ như mang quyền lực tăng dần, cụ thể là: "Xwaday" (tức lãnh chúa) cho Sasan, "Shah" (vua) cho Papag, Shahanshah (tức vua của các vị vua) của người Iran cho Adashir I, và Shahanshah của người Iran và các dân tộc phi Iran (Tiếng Ba Tư trung đại: "šāhān šāh ī ērān ud anērān") cho bản thân ông. Danh hiệu "Vua của các vị vua của người Iran và các dân tộc phi Iran" được thấy trên một đồng bạc của Shapur I, cho thấy rằng danh hiệu này được đưa ra sau chiến thắng của ông trước người La Mã và theo sau đó là việc sáp nhập các vùng đất không phải của Iran vào vương quốc Sasan. Danh hiệu này sau đó được sử dụng trên đồng xu của tất cả các vị vua Sasan sau Shapur I.
Thời kỳ trị vì của Yazdegerd I (399 – 420) đánh dấu một bước chuyển quan trọng quan điểm chính trị của vương triều Sasan khi chuyển trọng tâm chính trị nhiều hơn về phía Đông thay vì thiên về phía Tây như trước đó do xung đột ở với các bộ tộc ở khu vực phía Đông Iran ngày nay. Xung đột với người Hung Iran gợi nhớ các cuộc xung đột mang tính chất truyền thuyết giữa người Kayani và các bộ lạc Turan được mô tả trong các ghi chép bằng tiếng Tân Avestan. Danh hiệu "Ramshahr" (người gìn giữ hoà bình trong các vùng đất [của mình]) - được - thêm vào các đồng tiền dưới thời trị vì của Yazdegerd I. Trong bài thơ viết bằng tiếng Ba Tư trung đại mang tên Ayadgar-i Zariran ("Di chúc của Zarer"), danh xưng này được sử dụng bởi người cai trị cuối cùng của vương triều Kayani - Vishtaspa - cũng như sử dụng trong văn bản Hoả giáo của thế kỷ thứ 10 là "Denkard". Sự quan tâm của người Sasan đối với hệ tư tưởng Kayani kéo dài cho đến khi đế quốc Sasan diệt vong. Bahram V trong các đồng xu hiếm hoi ở Pars có sử dụng danh xưng "kirbakkar" (nhân từ).
Thời kỳ trị vì của Yazdegerd II đánh dấu việc đúc và cho in các đồng tiền với các dòng chữ mới: "mazdēsn bay kay" (Đức vua thờ phụng Mazda), thể hiện sự yêu mến đối những người cai trị nhà Kayani, những người cũng sử dụng tước hiệu "kay" này. Dưới thời Peroz I (459–484), tước hiệu "shahanshah" không xuất hiện trên các đồng xu của ông, chỉ xuất hiện dòng chữ "kay Peroz" ("Vua Peroz"). Tuy nhiên một con dấu khác của Peroz lại xuất hiện tước hiệu trên, chứng tỏ rằng đồng xu đôi khi cũng không thể hiện được đầy đủ tước hiệu cuả các vị quân chủ Sasan. Balash, anh trai và cũng là người kế vị của Peroz I, sử dụng tước hiệu "hukay" ("vị vua tốt").
Kavadh I (tv. 488–496, 498–531) là vị vua cuối cùng sử dụng tước hiệu "kay" trên đồng tiền của mình - với đồng tiền cuối cùng phát hành năm 513. Mặt sau các đồng tiền của ông có ghi tên của ông, tuy nhiên từ năm 504 dòng chữ "abzōn" (cầu mong sự thịnh vượng/phát triển) được thêm vào. Dưới thời kỳ trị vì thứ hai cuả Khosrau II (tv. 590, 591–628), chữ tượng hình GDH là "xwarrah" ("sự tráng lệ hoàng gia"). Ông kết hợp với dòng chữ "abzōn" trước đó và tạo nên dòng chữ: "Khosrow, người làm tôn lên vẻ tráng lệ hoàng gia ("Khūsrōkhwarrah abzōt"). Danh xưng "shahanshah" cũng được khôi phục trên các đồng xu của ông. Hai người kế vị ông, Kavadh II (tv. 628) và Ardashir III (tv. 628–630), đã hạn chế sử dụng tước hiệu này, dường như để tạo khoảng cách với Khosrow II.
Người đứng đầu Đế quốc Sasan là "[shahanshah]" (vua của các vị vua), còn được gọi đơn giản là "shah" (vua). Sức khỏe và phúc lợi của ông luôn quan trọng và cụm từ "Cầu mong ông được bất tử" đã được dùng để đáp lại ông. Bằng cách nhìn vào đồng tiền Sasan xuất hiện từ thế kỷ thứ 6 trở về sau, người ta có thể nhận thấy rõ mặt trăng và mặt trời. Ý nghĩa của mặt trăng và mặt trời, theo lời của nhà sử học Iran [Touraj Daryaee], "gợi ý rằng nhà vua ở trung tâm thế giới và mặt trời và mặt trăng quay xung quanh ông. Như vậy, vị quân chủ Sasan trên thực tế là" vua của bốn góc thế giới," đó là một danh xưng cũ bắt nguồn từ các vị quân chủ vùng Lưỡng Hà." Nhà vua coi tất cả những người cai trị khác, chẳng hạn như người La Mã, người Thổ và người Trung Quốc, là bề dưới của ông. Nhà vua mặc quần áo sặc sỡ, trang điểm, đội vương miện rất nặng, trong khi bộ râu của ông được trang trí bằng vàng. Các vị vua Sasanian đầu tiên tự coi mình là người có nguồn gốc thần thánh; họ tự gọi mình là "bay" (thần thánh). |
Giải quần vợt Mỹ Mở rộng 2023 - Đôi nam nữ
Anna Danilina và Harri Heliövaara là nhà vô địch, đánh bại Jessica Pegula và Austin Krajicek trong trận chung kết, 6–3, 6–4. Danilina trở thành tay vợt Kazakhstan đầu tiên vô địch đôi nam nữ Grand Slam, và Heliövaara trở thành tay vợt Phần Lan đầu tiên vô địch đôi nam nữ Mỹ Mở rộng.
Storm Hunter và John Peers là đương kim vô địch, nhưng thua ở vòng 1 trước Barbora Strýcová và Santiago González. Strýcová, cựu tay vợt số 1 thế giới ở nội dung đôi, thi đấu trận đấu cuối cùng của cô ở vòng tứ kết.
Ivan Dodig có cơ hội hoàn thành Grand Slam sự nghiệp, nhưng thua ở vòng 1.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Vận động viên khác.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Desirae Krawczyk / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Neal Skupski → thay thế bởi #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Alexa Guarachi / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Peyton Stearns / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Rajeev Ram → thay thế bởi #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Nadiia Kichenok / #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. |
Giải quần vợt Mỹ Mở rộng 2023 - Đơn nam trẻ
João Fonseca là nhà vô địch, đánh bại Learner Tien trong trận chung kết, 4–6, 6–4, 6–3.
Martín Landaluce là đương kim vô địch, nhưng chọn không tham dự.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
"Nhấn vào số hạt giống của một vận động viên để tới phần kết quả của họ." |
Giải quần vợt Mỹ Mở rộng 2023 - Đơn nữ trẻ
Katherine Hui là nhà vô địch, đánh bại Tereza Valentová trong trận chung kết, 6–4, 6–4.
Alex Eala là đương kim vô địch, nhưng chọn không tham dự.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
"Nhấn vào số hạt giống của một vận động viên để tới phần kết quả của họ." |
Nguyễn Văn Hiếu (nhà ngoại giao)
Nguyễn Văn Hiếu (ngày 4 tháng 4 năm 1906 – ngày 23 tháng 9 năm 1995) là anh cả của cựu Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu, là luật sư và nhà ngoại giao Việt Nam Cộng hòa, từng giữ chức Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Úc, New Zealand, Ý, Tây Ban Nha và Hy Lạp.
Nguyễn Văn Hiếu sinh ngày 4 tháng 4 năm 1906, tại thành phố Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận, Liên bang Đông Dương.
Hồi còn trẻ ông được đào tạo chuyên ngành luật ở Paris nước Pháp rồi về sau ra trường hành nghề luật sư. Dưới thời Pháp thuộc, ông làm công chức trong chính quyền thuộc địa.
Tháng 12 năm 1963, ông được bổ nhiệm làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Úc. Ngày 17 tháng 3 năm 1964, ông làm lễ nhậm chức, và trình quốc thư lên chính phủ Úc vào tháng sau. Ông từ chức vào ngày 10 tháng 10 năm 1966 sau hai năm làm đại sứ tại đây.
Ngoài ra, ông còn giữ chức vụ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Ý, Hy Lạp và Tây Ban Nha.
Nguyễn Văn Hiếu qua đời ngày 23 tháng 9 năm 1995 tại thành phố Houston, bang Texas, Hoa Kỳ.
! colspan="3" style="border-top: 5px solid #FACEFF;" | Chức vụ ngoại giao |
Nguyễn Văn Lộc (nhà ngoại giao)
Nguyễn Văn Lộc (ngày 4 tháng 7 năm 1915 – ngày 17 tháng 7 năm 2007) là nhà ngoại giao Việt Nam Cộng hòa, từng giữ chức vụ Đại biện lâm thời Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Nhật Bản, Đại biện lâm thời Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Philippines và Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Bờ Biển Ngà cùng các chức vụ khác.
Nguyễn Văn Lộc sinh ngày 4 tháng 7 năm 1915, tại tỉnh Tân An, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương.
Dưới thời Pháp thuộc, ông theo học chuyên ngành luật rồi về sau ra trường hành nghề luật sư. Từ năm 1952 đến năm 1962, ông được bổ nhiệm làm Vụ trưởng Vụ Tư pháp, Văn hóa, Lãnh sự và Hành chính Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa.
Năm 1963, ông công du sang Nhật Bản trên cương vị quyền Trưởng Phái đoàn Bồi thường Việt Nam Cộng hòa tại Tokyo. Ngày 9 tháng 12 cùng năm, ông giữ chức Công sứ kiêm Đại biện lâm thời Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Nhật Bản, đến năm 1965 thì nộp đơn từ chức, và được Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nguyễn Duy Quang kế nhiệm.
Từ năm 1966 đến 1967, ông chuyển sang làm Công sứ Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Philippines. Từ năm 1968 đến năm 1972, ông làm Công sứ kiêm Đại biện lâm thời Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Philippines. Từ năm 1972 đến năm 1975, ông giữ chức vụ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Bờ Biển Ngà (từ năm 1974, ông còn kiêm chức Đại sứ tại Niger, Togo và Thượng Volta), đây cũng là lần cuối cùng ông làm Đại sứ tại nước này trước xảy ra biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Nguyễn Văn Lộc qua đời ngày 17 tháng 7 năm 2007 tại Villeneuve-la-Garenne, Hauts-de-Seine, Pháp.
Nguyễn Văn Lộc đã kết hôn và có bốn người con.
! colspan="3" style="border-top: 5px solid #FACEFF;" | Chức vụ ngoại giao |
Ngày Máy bay Giấy Quốc gia
Ngày Máy bay Giấy Quốc gia () là ngày lễ không chính thức được tổ chức vào ngày 26 tháng 5 hàng năm tại Mỹ để kỷ niệm món đồ chơi hàng không đơn giản này.
Lễ kỷ niệm ngày máy bay giấy thường bao gồm các cuộc tụ tập xã hội mà tại đó những người tham gia chế tạo và lái máy bay giấy. Những sự kiện này thường có các cuộc thi ở hai hạng mục bay cơ bản: "khoảng cách" và "thời gian trên không". Tính đến năm 2012, Takuo Toda giữ kỷ lục thế giới về thời gian bay lâu nhất (27,9 giây). Kỷ lục khoảng cách (226 feet, 10 inch hoặc 69,14 mét) được Joe Ayoob lập nên nhờ một chiếc máy bay do John Collins chế tạo vào tháng 2 năm 2012. |
Khách sạn Virgin Las Vegas
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Khách sạn Virgin Las Vegas là một khu nghỉ dưỡng, khách sạn và sòng bạc ở Paradise, Nevada, phía đông của Las Vegas Strip.
Khu nghỉ dưỡng ban đầu được khai trương vào tháng 3 năm 1995, với tên gọi Hard Rock Hotel. Vào tháng 1 năm 2018, công ty chủ sở hữu đa số Brookfield Asset Management đã thảo luận bán Hard Rock cho một nhóm người mua, bao gồm Virgin Hotels, Bosworth Hospitality và công ty đầu tư Juniper Capital Partners. Ba công ty đã hợp tác với nhau một năm trước đó để bắt đầu tìm kiếm một khu nghỉ dưỡng sòng bạc hiện có ở Las Vegas. Việc bán Hard Rock Hotel đã được hoàn tất vào ngày 30 tháng 3 năm 2018. Cùng ngày hôm đó, người sáng lập Virgin Group, Richard Branson, đã tổ chức một buổi họp báo kiểu tiệc tùng tại hồ bơi Hard Rock, thông báo rằng khu nghỉ dưỡng sẽ được cải tạo và đổi thương hiệu thành Virgin Hotels Las Vegas vào cuối năm 2019. Khu nghỉ dưỡng sẽ giữ lại tên Hard Rock cho đến khi hoàn thành việc cải tạo, sẽ được thực hiện theo từng giai đoạn, cho phép khu nghỉ dưỡng vẫn hoạt động một phần
Trong hơn 20 năm, Branson đã muốn tham gia vào ngành công nghiệp sòng bạc Las Vegas. Tại thời điểm mua lại, công ty chỉ điều hành một khách sạn, Virgin Hotels Chicago, và có kế hoạch bổ sung thêm khoảng 10 khách sạn nữa. Với khoảng 1.500 phòng khách sạn, Hard Rock là khách sạn lớn nhất trong số các khách sạn của Virgin, nhưng nó cũng nhỏ so với các khu nghỉ dưỡng trên Las Vegas Strip gần đó. Khu nghỉ dưỡng phù hợp với mong muốn của Virgin Hotels về một khách sạn boutique nhỏ hơn ở thị trường Las Vegas. Khu nghỉ dưỡng được tân trang sau này sẽ cạnh tranh với các khách sạn mới hơn như Cosmopolitan of Las Vegas, Delano và NoMad.
Richard Bosworth được bổ nhiệm làm giám đốc điều hành mới của khu nghỉ dưỡng. Bosworth và Juniper Capital là những đối tác kinh doanh lâu năm. Trước đó, hai bên đã muốn mua lại khu nghỉ dưỡng Fontainebleau chưa hoàn thành ở Las Vegas và họ đã tiếp cận Brookfield với tư cách là đối tác vốn cổ phần tiềm năng vào đầu năm 2017. Kế hoạch mua lại Fontainebleau không thành và cuối cùng Bosworth và Juniper Capital đã bắt đầu thảo luận với Brookfield về việc mua lại Hard Rock thay thế. Khu nghỉ dưỡng được mua với giá 500 triệu đô la, một phần bằng khoản vay 200 triệu đô la từ JPMorgan Chase. Quyền sở hữu được chia cho bảy công ty đầu tư, trong đó có bốn công ty Canada. Chủ sở hữu đa số là Quỹ hưu trí Canada Trung tâm và Đông của Liên đoàn Lao động Quốc tế Bắc Mỹ, đã đóng góp hơn 100 triệu đô la cho việc mua lại Hard Rock. Đến tháng 1 năm 2019, JC Hospitality đã trở thành chủ sở hữu đa số của khu nghỉ dưỡng. Đây là liên doanh giữa Bosworth Hospitality, Juniper Capital và Virgin. Công ty được dẫn dắt bởi chủ tịch kiêm CEO Bosworth và Virgin Hotels, công ty sẽ quản lý khu nghỉ dưỡng sau khi cải tạo.
Base Entertainment đã xây dựng một cơ sở sân khấu trên khu đất để tổ chức The Voice: Neon Dreams, một chương trình biểu diễn ca nhạc trực tiếp. Base Entertainment đã rút khỏi dự án sau khi Virgin mua lại, khiến cơ sở vật chất chỉ được xây dựng một phần.
Thiết kế và cải tạo.
Virgin Hotels Las Vegas có thiết kế hiện đại với chủ đề ốc đảo sa mạc. Giai đoạn thiết kế được tiến hành vào tháng 6 năm 2018. Công việc cải tạo ban đầu được lên kế hoạch bắt đầu và kết thúc vào năm 2019, nhưng khối lượng công việc đã được tăng lên khi cần thiết thêm các cải thiện. Trong năm đầu tiên sở hữu, Bosworth và các chủ sở hữu khác đã quan sát cách Hard Rock hoạt động, điều này đã giúp họ trong việc lập kế hoạch cải tạo. Những thay đổi về thiết kế đã làm tăng chi phí cải tạo từ 150 triệu đô la lên 200 triệu đô la. Vào tháng 4 năm 2019, có thông báo rằng dự án cải tạo hiện sẽ bắt đầu vào tháng 2 năm 2020, với lễ khai trương vào cuối năm. Công việc thiết kế gần như hoàn thành tại thời điểm thông báo. Nhóm thiết kế bao gồm Klai Juba Wald Architecture + Interiors, Rockwell Group và Studio Collective. McCarthy Building Companies và Taylor International Corporation được chọn làm tổng thầu.
Vào tháng 8 năm 2019, có thông báo rằng Hard Rock sẽ đóng cửa hoàn toàn trong khoảng tám tháng bắt đầu từ đầu tháng 2 năm 2020, để cho phép việc cải tạo diễn ra. Mặc dù ban đầu có kế hoạch giữ cho khu nghỉ dưỡng mở một phần trong quá trình cải tạo, Bosworth cho biết, "Chúng tôi xác định rằng việc đóng cửa từng giai đoạn trong bốn tháng, tiếp theo là đóng cửa hoàn toàn trong bốn tháng không hiệu quả từ quy trình xây dựng cũng như không thể cung cấp trải nghiệm dịch vụ khách sạn mà khách hàng của chúng tôi xứng đáng được hưởng." Một tòa nhà Hard Rock Cafe cũ, nằm trong khuôn viên, đã bị phá bỏ vào tháng 11 năm 2019 để nhường chỗ cho bãi đậu xe valet và xe chia sẻ chuyến đi. Hard Rock Hotel đóng cửa vào ngày 3 tháng 2 năm 2020, cho phép bắt đầu cải tạo.
Khu nghỉ dưỡng được lên kế hoạch khai trương vào ngày 6 tháng 11 năm 2020. Công việc xây dựng vẫn diễn ra đúng tiến độ bất chấp đại dịch COVID-19 và tác động của nó đối với tiểu bang. Tuy nhiên, Bosworth thông báo vào tháng 8 năm 2020 rằng việc khai trương có thể bị trì hoãn do đại dịch, khiến tình hình kinh tế suy giảm.
Vào tháng 9 năm 2020, Bosworth thông báo ngày khai trương mới là ngày 15 tháng 1 năm 2021, vì các chủ sở hữu muốn đảm bảo rằng tình trạng đại dịch và các hạn chế tiếp tục được cải thiện. Sáu tuần trước khi khu nghỉ dưỡng dự kiến khai trương, JC Hospitality đã trì hoãn một lần nữa, do đại dịch. Tại Nevada, tỷ lệ lấp đầy sòng bạc đã giảm xuống 25% do số ca nhiễm COVID-19 tăng. Bosworth nói rằng trong điều kiện này, khu nghỉ dưỡng sẽ không có lãi nếu mở cửa vào tháng 1.
Virgin Hotels Las Vegas đã khai trương vào tối ngày 25 tháng 3 năm 2021, Những người tham dự buổi khai trương bao gồm Mario Lopez, Jon Gruden và Dana White. Branson đã không tham dự buổi khai trương do lo ngại về đại dịch. Một số tiện ích, bao gồm một số nhà hàng và một cửa cá cược thể thao nhỏ, đã không sẵn sàng với việc khai trương ban đầu.
Sau khi các hạn chế COVID-19 được nới lỏng, khu nghỉ dưỡng đã tổ chức lễ khai trương cuối tuần từ ngày 10 đến 13 tháng 6 năm 2021, đánh dấu sự hoàn thành của gần như tất cả các tiện ích. Những người tham dự lễ khai trương bao gồm Branson, thống đốc Nevada Steve Sisolak và ca sĩ Christina Aguilera, người đã biểu diễn tại nhà hát được cải tạo của khu nghỉ dưỡng. Đối tượng khách hàng mục tiêu của khu nghỉ dưỡng là những người từ 25 đến 48 tuổi. Để thu hút khách, khu nghỉ dưỡng đã mở cửa mà không tính phí nghỉ dưỡng và tiền gửi xe, cả hai loại phí này đã trở nên phổ biến ở Las Vegas. Khu nghỉ dưỡng cũng cung cấp Wi-Fi miễn phí.
Khu nghỉ dưỡng có khoảng 1.300 cựu nhân viên của Hard Rock, chiếm phần lớn lực lượng lao động. Bosworth đã tìm cách giữ lại 1.850 nhân viên của Hard Rock sau khi đóng cửa, thông qua một chương trình sẽ trả cho họ tiền thưởng nếu họ quay lại làm việc khi Virgin Hotels mở cửa. Khu nghỉ dưỡng cũng đã ký hợp đồng gia hạn ba năm để tiếp tục tổ chức Triển lãm Giải trí Người lớn AVN, mặc dù triển lãm năm 2021 đã bị hủy bỏ vì đại dịch.
Virgin Hotels Las Vegas khai trương với một sòng bạc rộng 60.000 foot vuông (5.600 m2), được gọi là Mohegan Sun Casino. Nó được đổi tên thành Mohegan Casino Las Vegas vào tháng 9 năm 2022. Sòng bạc được điều hành bởi Mohegan Gaming and Entertainment, một công ty trực thuộc bộ tộc Mohegan, khiến nó trở thành bộ lạc người Mỹ bản địa đầu tiên điều hành sòng bạc ở Las Vegas. Sòng bạc có 44 trò chơi bàn và 650 máy đánh bạc; một nửa số máy đánh bạc là từ Hard Rock trước đây. Một nhà cái thể thao, do Betfred vận hành, đã mở cửa vào tháng 2 năm 2023, sau khi bị trì hoãn do quá trình cấp phép của Nevada.
hách sạn có 1.504 phòng được cải tạo, trải rộng trên ba tòa nhà: Canyon Tower, Opal Tower và Ruby Tower. Ruby Tower là một tòa nhà toàn phòng suite. Một ứng dụng di động có thể đóng vai trò là chìa khóa phòng tùy chọn và cũng cho phép khách đặt dịch vụ phòng hoặc trả phòng. Ngoài ra, ứng dụng cho phép khách kiểm soát đèn, TV và điều chỉnh nhiệt độ trong phòng của họ. Khách sạn là một phần của Curio Collection của Hilton. Khu nghỉ dưỡng cũng có 110.000 foot vuông (10.000 m2) không gian tổ chức hội nghị và sự kiện. Các tiện nghi khác bao gồm trung tâm thể dục và spa.
Virgin Hotels có ý định hồi sinh danh tiếng của Hard Rock trước đây như một điểm đến hàng đầu cho giải trí. The Joint, một địa điểm âm nhạc bên trong Hard Rock trước đây, đã được cải tạo và sẽ được đổi tên. Địa điểm này tạm thời được gọi là The Theater at Virgin Hotels Las Vegas, cho đến khi có tên gọi chính thức được chọn. Vì đại dịch, nhà hát đã không ra mắt cùng với phần còn lại của khu nghỉ dưỡng, và thay vào đó đã mở cửa vào tháng 9 năm 2021.
Vinyl, một địa điểm âm nhạc khác tại Hard Rock, đã được đổi tên thành 24 Oxford, theo tên cửa hàng Virgin Records đầu tiên, nằm trên đường Oxford Street số 24 ở London. JC Hospitality đã chi 500.000 đô la để cải tạo không gian của Vinyl. Địa điểm này đã mở cửa vào tháng 5 năm 2021, tổ chức chương trình lưu diễn "27", dành riêng cho các thành viên của 27 Club.
Khu vực hồ bơi năm mẫu Anh của khu nghỉ dưỡng được bao quanh bởi một số nhà hàng và một bãi cỏ tổ chức sự kiện sẽ tổ chức các buổi hòa nhạc. Không gian bãi cỏ tổ chức sự kiện trước đây là nơi có một khu vực hồ bơi riêng biệt, nơi tổ chức các bữa tiệc hồ bơi Rehab của Hard Rock. Khu vực hồ bơi này đã được chôn dưới bãi cỏ tổ chức sự kiện mới, có sức chứa 1.800 người. Élia Beach Club là một câu lạc bộ ban ngày hai tầng ngoài trời, tách biệt với khu vực hồ bơi. Nơi đây có các DJ và nhạc dance điện tử, và được khai trương vào tháng 6 năm 2021.
Nhà hàng và quán bar.
Khu nghỉ dưỡng có 12 nhà hàng và quán bar. Giống như các khách sạn Virgin khác, cơ sở ở Las Vegas có Commons Club, một nhà hàng và khu vực phòng chờ cao cấp được xây dựng tại lối vào chính của khu nghỉ dưỡng. Commons Club có diện tích 8.500 foot vuông (790 mét vuông) và bao gồm The Bar và The Shag Room, hai quán bar siêu sang nằm cạnh nhau. Cả hai đều sẽ cung cấp giải trí trực tiếp và The Shag Room cũng sẽ được đặt cho các sự kiện riêng tư.
Khu nghỉ dưỡng cũng bao gồm một nhà hàng Thái tên là Night + Market, và Funny Library Coffee Shop. Hakkasan Group điều hành Casa Calavera, một quán rượu cung cấp đồ ăn và thức uống. Kassi Beach House, một nhà hàng Ý bên hồ bơi, đã mở cửa vào tháng 5 năm 2021. Olives, một nhà hàng Địa Trung Hải của đầu bếp Todd English, đã mở cửa ba tháng sau đó.
Một quán bar và nhà hàng thể thao có tên "Money, Baby!" đã mở cửa vào tháng 6 năm 2021, thay thế cho hộp đêm Vanity của Hard Rock. Nó đóng vai trò là một lựa chọn thay thế cho nhà sách thể thao chính của khu nghỉ dưỡng, vốn chưa mở cửa. Money, Baby! có nhiều tầng với diện tích 15.000 foot vuông (1.400 mét vuông). Phần nhà hàng được giám sát bởi đầu bếp Beau MacMillan. Money, Baby! cuối cùng đã đóng cửa vào năm 2022.
Virgin Hotels Las Vegas đã giữ lại nhà hàng Nobu, vốn trước đây hoạt động bên trong khu nghỉ dưỡng khi nó còn là Hard Rock. Nobu được vận hành bởi đầu bếp Nobu Matsuhisa. Hai nhà hàng Hard Rock khác, MB Steak và Forte Pizza, cũng được giữ lại. MB Steak, thuộc sở hữu của David và Michael Morton, đã nhận được khoản đầu tư mở rộng trị giá 1,5 triệu đô la, và được đổi tên thành One Steakhouse. Nobu cũng được mở rộng. |
Thần trăng hay Thần mặt trăng hay Nguyệt thần ("Lunar deity"/"Moon deity") là một vị nữ thần đại diện cho Mặt trăng hoặc một khía cạnh của mặt trăng. Những vị thần này có thể có nhiều chức năng và truyền thống khác nhau tùy thuộc vào nền văn hóa, nhưng chúng thường có liên quan với nhau. Các vị thần mặt trăng và việc thờ cúng Mặt trăng có thể được nhận thấy trong hầu hết lịch sử được ghi lại dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhiều nền văn hóa đã ngầm liên hệ chu kỳ 29,5 ngày của mặt trăng với chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ, bằng chứng là nguồn gốc ngôn ngữ chung của các từ ""kinh nguyệt" ("Nenstruation") và "mặt trăng"/"nguyệt"" ("Moon") trong nhiều nhóm ngôn ngữ. Sự nhận dạng này không phổ biến, được chứng minh bằng thực tế là không phải tất cả các vị thần mặt trăng đều là nữ. Tuy nhiên, nhiều thần thoại nổi tiếng có nữ thần mặt trăng, bao gồm nữ thần Hy Lạp Selene, nữ thần La Mã Luna và nữ thần Trung Quốc Hằng Nga.
Một số nữ thần bao gồm Artemis, Hecate và Isis ban đầu không có các khía cạnh của mặt trăng và chỉ có được chúng vào cuối thời cổ đại do sự đồng bộ hóa với vị thần mặt trăng trên thực tế là Hy Lạp-La Mã Selene/Luna. Các nền văn hóa có nam thần mặt trăng thường có nữ thần mặt trời và ngược lại. Trong tín ngưỡng Bakongo thì nữ thần trái đất và mặt trăng Nzambici là đối tác nữ của thần mặt trời Nzambi Mpungu. Một ngoại lệ như Ấn Độ giáo đề cao cả khía cạnh nam và nữ của thần mặt trời. Người Ai Cập cổ đại có thờ một số vị thần mặt trăng bao gồm Khonsu và Thoth, mặc dù Thoth là một vị thần phức tạp hơn. Thần Set tượng trưng cho mặt trăng trong Lịch ngày may mắn và ngày xui xẻo của người Ai Cập. Nhiều nền văn hóa được định hướng theo trình tự thời gian theo chu kỳ Mặt trăng (âm lịch), trái ngược với Mặt trời. Lịch Hindu duy trì tính toàn vẹn của tháng âm lịch và thần mặt trăng Chandra có ý nghĩa tôn giáo trong nhiều lễ hội Hindu (ví dụ: Karwa Chauth, Sankashti Chaturthi và trong các lần nhật thực). |
Van Edgar Chandler (5 tháng 3 năm 1925 – 11 tháng 3 năm 1998) là một sĩ quan quân đội và phi công người Mỹ, ông đã bắn phá hủy 5 máy bay quân địch trong trận không chiến trong Thế chiến II, trở thành phi công trẻ nhất trong Quân đội Hoa Kỳ. Ông thực hiện các nhiệm vụ trong Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam, trước khi giải ngũ khỏi Không quân Hoa Kỳ vào năm 1974 với quân hàm đại tá.
Chandler sinh ngày 5 tháng 3 năm 1925 tại Kemp, Texas.
Tháng 2 năm 1943, ông tuyển quân vào Không lực Lục quân Hoa Kỳ nhưng lúc đầu bị từ chối vì còn trẻ tuổi. Tháng 3 năm 1943, ông được phép nhập ngũ và bắt đầu nhiệm vụ. Vào tháng 1 năm 1944, ông nhận phù hiệu phi công và bằng sắc phong hàm thiếu úy.
Vào tháng 6 năm 1944, Chandler được phân công vào Phi đoàn Chiến đấu số 336 (336th Fighter Squadron) thuộc Liên đoàn Chiến đấu số 4 (4th Fighter Group) tại Mặt trận Tác chiến Châu Âu. Từ căn cứ tại Không quân Hoàng gia Debden, ông thực hiện các nhiệm vụ trên chiếc North American P-51 Mustang. Trong khi thực hiện nhiệm vụ một tuần sau khi đến Anh, chiếc P-51 của Chandler gặp trục trặc và ông phải bỏ thoát qua Đức. Sau khi thoát ra, ông được một gia đình người Bỉ chăm sóc cho đến khi được Lục quân Anh giải cứu.
Sau khi trở về đơn vị, ông lập chiến công trên không đầu tiên vào ngày 12 tháng 9, khi bắn hạ một chiếc Focke-Wulf Fw 190 trên Wiesbaden, Đức. Ông lập chiến công thứ hai vào ngày 6 tháng 11. Vào Lễ Giáng sinh năm 1944, ông bắn hạ một chiếc Fw 190 và Messerschmitt Bf 109 trên Koblenz. Ông đạt huy hiệu phi công ách vào đầu năm mới 1945, khi bắn hạ một chiếc Bf 109 trên Uelzen ở tuổi 19, khiến ông trở thành phi công trẻ nhất trong Quân đội Hoa Kỳ đạt được huy hiệu này. Ngày 29 tháng 1 năm 1945, ông được bổ nhiệm làm Trợ lý Sĩ quan Tác chiến và Pháo binh của Phi đoàn Chiến đấu 336.
Trong Thế chiến II, Chandler được công nhận là đã bắn phá hủy 5 máy bay quân địch trong trận không chiến cộng với 4 chiếc bị phá hủy trên mặt đất khi bắn phá các sân bay của quân địch. Khi phục vụ trong 4th FG, ông điều khiển chiếc P-51 mang tên "Wheezy".
Sau khi Thế chiến II kết thúc, Chandler được phân công vào Phi đoàn Chiến đấu số 76 (76th Fighter Squadron) ở Guam, đến tháng 12 năm 1948, ông được phân công đến Phi đoàn Chiến đấu số 61 (61st Fighter Squadron).
Vào tháng 9 năm 1951, ông được thăng quân hàm thiếu tá đến tháng 12 cùng năm, ông được phân công vào Phi đoàn Chiến đấu số 25 (25th Fighter Squadron) thuộc Không đoàn Chiến đấu số 51 (51st Fighter Wing) tại Căn cứ Không quân Suwon ở Hàn Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên. Trong cuộc chiến tranh, ông được công nhận khi đã bắn hạ ba chiếc Mikoyan-Gurevich MiG-15 khi điều khiển chiếc F-86 Sabre, nâng tổng số chiến công của ông lên tám.
Sau khi trở về từ Hàn Quốc, Chandler phục vụ trong Bộ Tư lệnh Phòng không tại Căn cứ Không quân Ent ở Colorado và sĩ quan giám sát Lockheed F-104 Starfighter tại Căn cứ Không quân Edwards ở California, từ năm 1952 đến năm 1956. Vào tháng 3 năm 1958, ông theo học tại Đại học Tham mưu Không quân Hoàng gia ở Luân Đôn, cùng năm, ông trở thành tư lệnh Phi đoàn Chiến đấu số 22 (22nd Fighter Squadron) tại Căn cứ Không quân Bitburg ở Tây Đức. Năm 1961, ông được chỉ định đến sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược tại Căn cứ Không quân Offutt ở Nebraska và vào tháng 8 năm 1967, ông được chỉ định đến sở chỉ huy Không quân Hoa Kỳ tại Lầu Năm Góc.
Sau khi theo học tại Khoa Không chiến từ tháng 8 năm 1968 đến tháng 8 năm 1969, Chandler được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Tác chiến của Không đoàn Chiến đấu số 31 (31st Fighter Wing) tại Căn cứ Không quân Tuy Hòa thời Việt Nam Cộng hòa trong Chiến tranh Việt Nam. Ông thực hiện các nhiệm vụ trên chiếc North American F-100 Super Sabre trong chiến tranh cho đến tháng 8 năm 1970.
Nhiệm vụ cuối của ông là tại Sân bay Quốc tế Duluth ở Minnesota, ông giữ chức vụ Phó phụ trách Tác chiến của Bộ Chỉ huy Phòng không Bắc Mỹ, từ tháng 6 năm 1972 cho đến khi giải ngũ khỏi Không quân Hoa Kỳ vào tháng 8 năm 1974.
Chandler kết hôn với Mary Elizabeth, nhũ danh Weber. Họ có một con gái và ba người cháu.
Sau khi giải ngũ khỏi Không quân Hoa Kỳ, Chandler cùng gia đình chuyển đến Greeley, Colorado. Ông tốt nghiệp với bằng kinh doanh từ Đại học Bắc Colorado. Chandler mắc bệnh ung thư và qua đời vào ngày 11 tháng 3 năm 1998, ở tuổi 73. Theo nguyện vọng của Chandler, thi hài ông được hỏa táng và tro cốt rải trên Pawnee Buttes. |
Subsets and Splits